Tính năng mới

Hệ thống đường ống nước và đồ hộp nhập khẩu

Hệ thống đường ống cũ, bị xuống cấp qua thời gian, có nhiều mối hàn sửa chữa hay hệ thống ít được sục rửa, thay mới đều có nguy cơ bị rỉ sét, ăn mòn, từ đó phát tán các ion chì và kim loại nặng vào nước. Chì được hòa tan trong nước, xâm nhiễm vào cơ thể chủ yếu thông qua nước uống và nước dùng trong nấu ăn. Bên cạnh đó, những sản phẩm thực phẩm đóng hộp có vỏ hộp hàn chì đã bị cấm ở Hoa Kỳ nhưng hiện vẫn được sử dụng ở một số nước. Việc “ăn chín uống sôi” không có tác dụng trong việc xử lý hay loại bỏ chì trong nước.

Các nguồn tiếp xúc với chì khác

Trong những trường hợp khác, nguy cơ nhiễm độc chì có thể đến từ:

  • Đất. Các hạt chì từ xăng pha chì hoặc sơn lắng xuống đất có thể tồn tại nhiều năm. Đất bị nhiễm chì vẫn là một vấn đề lớn ở những khu vực có đường cao tốc và ở một số vùng đô thị có sử dụng sơn chứa chì trong trang trí nhà cửa.
  • Mạt bụi nhà. Mạt bụi trong các hộ gia đình có thể chứa chì từ vụn sơn chì hoặc từ đất bị ô nhiễm từ bên ngoài.
  • Đồ gốm. Nước men làm đồ gốm sứ có thể chứa chì, tiềm ẩn nguy cơ thấm vào thức ăn, nước uống được trữ bên trong các vật dụng này.
  • Đồ chơi. Một số sản phẩm đồ chơi cho trẻ em có sử dụng chì để hoàn thiện hình thức, trực tiếp gây nguy hiểm cho trẻ nếu trẻ nhai nuốt phải.
  • Mỹ phẩm. Một số sản phẩm mỹ phẩm như phấn mắt, son môi có thể chứa thành phần chì.
  • Thảo dược hay các phương thuốc dân gian. Một số loại thuốc nam dùng uống, bôi… (còn gọi là thuốc cam) lưu hành bất hợp pháp có chứa chì (hồng đơn) gây ra nhiều trường hợp ngộ độc.
  • Đạn chì. Nếu ở trong phạm vi trường bắn lâu có thể dẫn đến phơi nhiễm chì từ đạn.
  • Nghề nghiệp. Người làm trong lĩnh vực sửa chữa ô tô, khai thác quặng mỏ, lắp đường ống, sản xuất pin, sơn, xây dựng và một số lĩnh vực khác có thể nhiễm độc chì do quần áo bám lại các thành phần độc hại.
Xem thêm:   Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Chì xâm nhập cơ thể như thế nào?

Chì có thể lây nhiễm qua những con đường sau:

  • Đường hô hấp: Do hít phải bụi, không khí, khói, hơi có chì. Trẻ em tiếp xúc với các chất độc trong khí thở nhiều hơn so với người lớn (diện tích tiếp xúc ở đường hô hấp và thể tích khí hít thở cho mỗi đơn vị cân nặng của trẻ lớn hơn), chiều cao trẻ thấp hơn nên hít thở không khí ở gần mặt đất hơn nơi có nồng độ chì cao hơn. Tốc độ lắng đọng chì ở phổi trẻ em cao gấp 2,7 lần so với người lớn.
  • Đường tiêu hóa: Qua ăn, uống, do dùng bàn tay không vệ sinh đưa lên miệng hoặc ngậm, mút các đồ vật có chì (đối với trẻ em). Trẻ em hấp thu 40-50% lượng chì trong thức ăn trong khi người lớn chỉ hấp thu 10-15%. Đói, chế độ ăn thiếu dinh dưỡng, thiếu các ion như sắt, canxi, kẽm làm hấp thu chì qua đường tiêu hóa tăng lên. Người sống ở các khu vực ô nhiễm chì nếu chế độ ăn thiếu các khoáng chất trên thì càng dễ bị nhiễm độc chì.
  • Tiếp xúc da, đặc biệt khi tiếp xúc trong khoảng thời gian dài. Tỷ lệ diện tích da cho mỗi đơn vị cân nặng của trẻ em cũng lớn hơn người lớn nên hấp thu chất độc cũng nhiều hơn.
  • Qua nhau thai, sữa mẹ: Nếu người mẹ bị nhiễm độc chì thì con cũng bị nhiễm độc. Nồng độ chì trong máu của con bằng 80% nồng độ chì trong máu mẹ. Chì có thể xâm nhập vào cơ thể qua sữa mẹ, tuy nhiên thông tin về con đường tiếp xúc này còn chưa đầy đủ.
Xem thêm:   bão là gì trên facebook

Chẩn đoán và điều trị

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào giúp chẩn đoán nhiễm độc chì?

Trẻ nhỏ có thể được kiểm tra nồng độ chì trong quá trình kiểm tra sức khỏe định kỳ, đặc biệt nếu thuộc các gia đình nằm trong diện nguy cơ cao phơi nhiễm chì.

Bác sĩ có thể chẩn đoán bằng phương pháp xét nghiệm máu đơn giản. Nồng độ chì trong máu được đo bằng microgam trên deciliter (mcg/dL). Không có mức thang an toàn cho nồng độ chì trong máu. Tuy nhiên, mức 5 mcg/dL được xem là không an toàn đối với trẻ em. Khi này trẻ cần được theo dõi, kiểm tra định kỳ. Nếu mức chì trong máu quá cao (thường là 45 mcg/dL hoặc cao hơn) thì trẻ cần phải được điều trị ngay.

Viết một bình luận