Tác phẩm, trang 155 SGK Ngữ Văn 11

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Tác phẩm, trang 155 SGK Ngữ Văn 11 phải ko? Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các …

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Tác phẩm, trang 155 SGK Ngữ Văn 11 phải ko? Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các tài liệu về giáo dục, học tập khác tại đây => Giáo dục, học tập

Chí Phèo là một trong những tác phẩm nổi tiết nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao. Cùng tham khảo phần Soạn bài Chí Phèo, Phần 2, Tác phẩm để tìm hiểu về hoàn cảnh sáng tác, rực rỡ nội dung, nghệ thuật và những thông điệp được nhà văn gửi gắm qua truyện ngắn.

Soạn bài Chí Phèo, phần 2, tác phẩm, ngắn 1

I. Tác phẩm “Chí Phèo”

1. Xuất xứ
– Chí Phèo tên thuở đầu là Cái lò gạch cũ in năm 1941 trong tập truyện Đôi lúa xứng đôi, với bút danh Nam Cao do nhà xuất bản Đời mới Hà Nội ấn hành, được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó.
– Sau này, Nam Cao đổi tên tác phẩm thành Chí Phèo.

2. Nội dung chính
– Chí Phèo xuất thân ko có cha mẹ, là đứa con hoang bị bỏ lại nơi cái lò gạch cũ. Chí được những người lao động nuôi nấng, lớn lên đi làm thuê ở nhà Bá Kiến.
– Bà ba vợ Bá Kiến bắt Chí Phèo xoa đùi, bóp chân và gợi ý chuyện xác thịt. Chí Phèo cảm thấy nhục lúc bị đối xử như thế. Do ghen tuông tuông nhưng Bá Kiến tìm cách tống Chí vào tù.
– Ra tù, Chí trở thành con người khác hẳn. Hắn uống rượu say tới nhà Bá Kiến đòi báo thù. Bá Kiến thủ đoạn đã biến Chí thành tay sai tác oai tác quái cả làng Vũ Đại. Người nào cũng sợ Chí Phèo. Bá Kiến cấp cho Chí một ngôi nhà bỏ trống bên bờ sông.
– Cuộc đời Chí Phèo ngày càng chìm sâu hơn xuống vũng bùn tội trạng. Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại từ lúc nào ko hay.
– Tối nọ, tình cờ hắn bắt gặp Thị Nở, một cô gái xấu ma chê quỷ hờn, dở người, bên bờ sông cạnh nhà. Hắn làm tình với thị rồi hai người yêu nhau. Chí Phèo hi vọng thị Nở sẽ mở cánh cửa cho hắn bước vào cuộc đời.
– Bà cô thị Nở ngăn cản đám cưới của Chí Phèo. Căm giận, hắn uống say rồi quyết tâm đi trả thù nó, Hắn tới nhà Bá Kiến đâm chết ông ta rồi tự vẫn.
– Dân làngVũ Đại Xôn xao trước cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến. Đội Tảo, kình địch của Bá Kiến oang oang nói giữa chợ: thằng bố chết phen này thằng con sẽ ăn bùn. Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng rồi nghĩ tới cái lò gạch bỏ trống.

3. Cảm hứng thông minh
– Nét chủ đạo vẫn là cảm hứng hiện thực phê phán của chủ nghĩa hiện thực. Một mặt tác giả đồng cảm với người bị áp bức và mặt khác tố cáo, phê phán tội trạng của kẻ ác gây cho dân lành.
– Cảm hứng thông minh của Nam Cao vẫn phảng phất yếu tố lãng mạn thông qua triết lí tình thương, niềm tin cao cả, sự vận động từ bóng tối tới ánh sáng, thiện thắng ác,… vào con người theo kiểu của văn hào Huy-gô. Đặt niềm tin vào thiên tính thiện của con người nên bản năng hướng thiện vẫn chiếm vị trí quan trọng trong tự sự của Nam Cao về cuộc đời Chí Phèo.

4. Cấu trúc bề mặt: làng Vũ Đại và cuộc đời Chí Phèo
– Đọc Chí Phèo, người đọc biết toàn thể cuộc đời Chí Phèo, kể từ lúc mở mắt chào đời cho tới lúc giết mổ Bá Kiến rồi tự vẫn. Cách kể hướng về biên niên sử của nhân vật chính của tác phẩm thường là độc quyền của tiểu thuyết. Truyện ngắn hiếm lúc tái tạo đầy đủ cuộc đời nhân vật. Đây là đặc điểm lạ mắt của Chí Phèo.
– Tuy nhiên, để làm giảm số trang cho truyện (nếu ko thì truyện ngắn này có nguy cơ trở thành tiểu thuyết) thì ngoài việc lược bớt các sự kiện (chẳng hạn như ko nói rõ người nào là người sinh ra Chí và hoàn cảnh sống, tâm trạng của người mẹ đấy ra sao lúc từ bỏ đứa con), Nam Cao còn sử dụng kĩ thuật hồi cố. Giải pháp này được trao cho người kể và buộc người kể trở thành người hiểu rõ hết mọi ngóc ngóc trong đời Chí. Quả thực, lí lịch của Chí Phèo dần hiện lên rõ nét qua lời kể điềm tĩnh đầy chất suy tư: “Một anh đi thả ống lươn…”
– Nhờ đoạn hồi cố này nhưng người đọc ko chỉ nhận diện rõ hoàn cảnh thương tâm của Chí nhưng còn thấu hiểu trọng tâm câu chuyện được đặt ở đâu. Nếu làm phép thống kê, ta thấy đoạn kể về quá khứ của Chí trước lúc bị huỷ hoại nhân tính “hắn vừa đi vừa chửi” là vô cùng ngắn (chưa tới một trang) so với đoạn mô tả Chí trong sự tha hoá (khoảng 20 trang). Hơn nữa, ngay từ lúc mở đầu, hình ảnh Chí Phèo “vừa đi vừa chửi” đã bao hàm thông báo của người kể rằng câu chuyện mở màn bằng một con người ko tầm thường nữa.
– Trong tâm truyện đặt vào khát vọng hoàn lương chứ ko phải vào quá trình tha hoá. Thế nhưng, với tư cách là một nhà hiện thực cần mẫn, Nam Cao vẫn cố tái tạo lại quá khứ của Chí Phèo đế báo cho người đọc biết vì sao Chí Phèo ra nông nỗi này. Hoàn cảnh nghiệt ngã của xã hội đã tiếp tay cho Bá Kiến trong việc làm biến chất Chí Phèo.
– Trong cái làng Vũ Đại đó tồn tại nhiều thế lực cường hào tranh nhau quyền lợi bằng cách ức hiếp dân lành: cánh Bá Kiến, cánh Đội tảo, cánh Bát tùng,…
– Nông dân là nạn nhân của bọn họ và chính bản thân họ cũng tranh chấp xâu xé lẫn nhau. Tất cả tạo nên một dung mạo quái gở ngay trước lúc con quỷ làng Vũ Đại Chí Phèo xuất hiện.

5. Những số phận tương đồng
– Cấu trúc bề mặt còn hàm chứa một ý đồ nghệ thuật vượt ra ngoài phạm vi tái tạo trọn vẹn cuộc đời Chí. Người kể dùng quá khứ của Chí Phèo đó để đối chiếu với nhiều tình cảnh tương tự quá khứ của Chí.
– Đấy chính là cuộc đời của Binh Chức và Năm Thọ. Lối kể nghe chừng đơn giản ngỡ như gặp đâu kể đó song lại chuyển tải một kĩ thuật tự sự bậc thầy: đồng quy nhiều số phận để nói rằng trong xã hội đấy Chí Phèo ko phải là cá biệt.
– Ba cuộc đời trong quá khứ đó tạo ra ba tầng truyện hay ba tuyến tình tiết: truyện về Năm Thọ, truyện về Binh Chức và truyện về Chí Phèo.
– Ngoài ra, truyện còn có Tự Lãng sống một mình vì con gái chửa hoang bỏ lão nhưng đi. Nguyên nhân dẫn tới các cảnh đời bi thương của họ ít nhiều đều xuất phát từ chuyện nữ giới. Năm Thọ thì đưa vợ con ra làm cái cớ để uy hiếp Bá Kiến: kẻ dám giết mổ vợ con mình thì đâu có chùn tay trước người khác. Binh Chức thì cũng đưa vợ con ra dọa nạt Bá Kiến. Những lí do thì khác với Năm Thọ. Binh Chức ngầm đổ tội Bá Kiến tiêu tiền tài mình gửi về cho vợ. Bá Kiến phải nhượng bộ.
– Chí Phèo thì lại là nạn nhân của Bá Kiến. Ông ta ghen tuông Chí vì Chí bị bà Ba bắt bóp đùi. Như thế nền tảng của tình tiết hay của xung đột cơ bản của Chí Phèo là chuyện tranh nhau nữ giới. Từ mối hằn học này mới phát sinh ra những xung đột sau đó. Dần dần các xung đột xã hội hiện lên. Đây là điểm đặc trưng trong xung đột của Chí Phèo. Nó giảng giải vì sao lúc những quan hệ xã hội đã thay đổi thì Chí Phèo vẫn còn được tiếp tục đón đọc.

6. Cấu trúc chiều sâu: Thảm kịch của Chí Phèo

a. Con người bị tha hóa
– Chí Phèo chưa phải là nhân vật bị tha hóa thành lưu manh trước tiên trong dòng văn học hiện thực, những nhân vật này là một cá biệt, một tiêu biểu xuất sắc nhất.
– Xuất thân của Chí Phèo là một nông dân lương thiện. Nếu ko có những biến động xã hội bên ngoài thì cuộc sống của Chí Phèo cứ bình dị trôi đi. Nỗi khát khao giản dị “chồng cày thuê, vợ cuốc mướn” luôn túc trực trong Chí, để sau này lúc mọi thứ đều tan vỡ thì đó là nỗi khắc khoải vô tận cùng trong suốt cuộc đời Chí.
– Những cụ thể về quãng đời lương thiện của Chí được tác giả kể lướt qua hoặc đan xen trong các đoạn hồi ức. Như thế, đây ko phải là trọng tâm tự sự của tác giả. Nam Cao chỉ dùng những cụ thể quá khứ của Chí Phèo vừa đủ để soi rọi tình cảnh thực tại: một Chí Phèo đang lao nhanh vào trục đường tội trạng nhưng ko thể nào cưỡng.
– Mặt khác những cụ thể hồi cố này được sử dụng như những nốt nhấn nhận thức đế Chí và cả người đọc luôn ý thức được vấn đề thảm kịch nhưng Chí đang gánh chịu.
– Lúc bị kẻ xấu làm cho tha hóa, Chí Phèo tiếp tục bị bọn chúng lợi dụng để đẩy tiến xa hơn hơn vào trục đường tội trạng. Cứ thế, mỗi lần cố chống trả, Chí Phèo càng bị nhấn chìm hơn vào tội trạng. Từ con người nạn nhân, Chí trở thành con người tội nhân. Và cho dẫu là tội nhân thì Chí vẫn cứ là nạn nhân của xã hội đó. Cái nhìn của Nam Cao ở đây thâm thúy và nhân đạo biết bao!
– Sự tha hóa của Chí Phèo diễn ra cả ở hình thức lẫn tâm hồn, tính cách. “Con quỷ dữ của làng Vũ Đại” mang một khuôn mặt bị rạch ngang dọc chẳng chịt, mở mồm là chửi bới và gào thét la làng ăn vạ. Tiếng nói của Chí Phèo nổi tiếng tới mức nhưng lúc hắn cất lên thì dân làng Vũ Đại cứ để mặc hắn với âm thanh ngậu xị của lũ chó, vốn là loài ko biết phân biệt phải trái.
– Những cơn say triền miên của Chí là biểu thị rõ nét ý thức về nỗi thảm kịch của chính cuộc đời Chí. Những hành động bất nghĩa của Chí đều diễn ra trong những cơn say.

b. Thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người
– Đây chính là vấn đề trọng tâm của tác phẩm. Thảm kịch của sự tha hóa chỉ là cái nền để xuất hiện thảm kịch của sự cự tuyệt con người lỡ sa cơ trở lại cuộc đời lương thiện.
– Thị Nở là trọng tâm của thảm kịch này. Nếu ko có cái đêm Chí Phèo gặp thị Nở bên bờ sông thì có nhẽ vĩnh viễn đời Chí chỉ ngừng lại ở thảm kịch bị tha hóa nhưng thôi.
– Hai nhân vật cô độc này ngủ với nhau như chưa bao giờ được ngủ. Được làm tình, được mến thương, họ được sống trọn vẹn nghĩa của một con người.
– Khoảnh khắc hạnh phúc ngắn ngủi trong Chí được nhen nhóm từ thị Nở đã hé mở cho Chí trục đường trở lại với số đông. Chỉ hi vọng cuộc đời mình sẽ thay đổi. Thế nhưng, nỗi đau của Chí lại tiếp tục bị đẩy tới một giới hạn mới. Ngay tới cả cái con người nhưng xã hội vứt ra bên lề như thị Nở lại cũng hợp lí do cự tuyệt tình cảm của Chí. Từ đó, Chí trông thấy rằng, toàn cầu làng Vũ Đại ko còn thuộc về Chí. Cánh của cuộc đời đã khép chặt. Chí ko còn lối thoát nào khác là giết mổ chết kẻ gây ra thảm họa đời Chí và tự vẫn.
– Khát vọng “muốn làm người lương thiện” của Chí đâu có chỗ đứng trong một xã hội bất nhân và phi lương tận cùng. Một lúc nó đã làm con người biến chất, thì chỉ có cái chết chờ đón họ. Xã hội đó, ko cho phép con người được sống với ước mơ chính đáng của chính mình.
– Đỉnh điểm của thảm kịch cự tuyệt này là hành động giết mổ chết Bá Kiến của Chí Phèo. Xung đột truyện đã được khắc phục. Kẻ gây ra tội trạng phải gánh chịu hậu quả. Một cái chết mang nặng chất cổ tích, nhưng đằng sau nó vẫn mênh mang những vấn đề bi thiết về cuộc sống con người. Cái chết của Chí là một biểu thị của sự tuyệt vọng. Âm vang của thiên thảm kịch vẫn lan tỏa theo cái lò gạch trong suy nghĩ của thị Nở, trong lời nói đầy thử thách của các thế lực đối lập với Bá Kiến ở chợ.

– Như thế, thảm kịch của Chí được khai thác ở các góc độ:
+ Quyền làm con: Chí bị bố mẹ bỏ rơi ở cái lò gạch cũ.
+ Quyền được yêu: bà ba bắt bóp đùi, bà cô thị Nở nghiêm cấm, Thị Nở từ chối Chí Phèo.
+ Quyền được làm một công dân: do ghen tuông tuông, Bá Kiến lợi dụng quyền lực của mình tống Chí Phèo vào tù. Ra tù, Chí bị Bá Kiến lợi dụng, trở thành tay sai của hắn và dần trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

8. Nhân vật Bá Kiến
– Bá Kiến cho Chí đi tù, mới đọc đoạn đầu tác phẩm thì nguyên nhân cụ thể thì chẳng người nào biết. Người ta đưa ra hai giả thuyết và cả hai đều liên quan tới bà Ba: bà Ba tin dùng Chí và bà Ba muốn Chí quan hệ xác thịt. Nhưng tới gần cuối tác phẩm, lúc Bá Kiến đợi mãi nhưng bà Tư ko về, ông ta suy ngẫm về sự lẳng lơ của bà ta và ước ao “muốn cho tất cả những thằng trẻ trai đi ở tù”, thì điều này lại góp phần xác minh lí do bị ở tù của Chí từ hai giả thuyết trên.
– Rõ ràng, chỉ vì ghen tuông tuông nhưng Bá Kiến cho Chí đi tù. Mới hay lúc lên cơn ghen tuông thì con người ta dẫu khôn tới mấy cũng mù quáng và sức tố cáo sự bất nhân của kẻ lạm quyền và cả pháp luật phi lí của xã hội từ thiên truyện vì thế cũng sẽ tăng lên,
– Ngoài những câu nói vận dụng tục ngữ (“Thứ nhất sợ kẻ người hùng, thứ nhị sợ kẻ cố cùng liều thân”) hoặc những câu đúc kết kinh nghiệm cụ thể “ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn”… thì câu chuyện còn rất thành công ở lối nói lấp lửng. Chính cách nói này tạo ra biên độ mở cho tác phẩm, kích thích trí tưởng tượng của độc giả. Chí Phèo xuất hiện ở cái lò gạch bỏ trống. Ko người nào biết xuất xứ cho nên người đọc thả phanh nghĩ cho Chí một xuất xứ. Ngay tới cả câu nói của Bá Kiến: “Người nào chứ anh với nó (Lí Cường) còn có họ kia đấy” lúc dỗ ngon dỗ ngọt Chí, thì vẫn gợi cho người ta suy nghĩ Chí Phèo có quan hệ đặc trưng nào đó với Bá Kiến hoặc ít nhất thì Bá Kiến cũng hiểu rất rõ lai lịch Chí Phèo…
– Chí Phèo ko chỉ là chuyện xâm hại, áp bức nhưng còn là chuyện báo thù và chuyện kẻ báo thù bị lợi dụng. Trong số ba nhân vật, trừ Năm Thọ, còn lại Binh Chức và Chí Phèo là những kẻ báo thù. Ko phải họ mạnh hơn Bá Kiến nhưng là tình thế đẩy họ tới cùng đường nên họ buộc phải vùng lên để tìm đường sống. Bản năng sống của con người sẽ mạnh hơn tất cả, mạnh hơn ngay chính kẻ xâm hại họ. Thế là một sự hoán vị xảy ra: Bá Kiến, kẻ xâm hại trở thành kẻ bị xâm hại. Đây là chuyện thường tình. Sự đổi ngôi thống trị ko phải là điều hiếm thấy trong số đông. Nhưng cả Binh Chức lẫn Chí Phèo ko phải thực sự là kẻ xâm hại. Bản thân họ ko thể mạnh hơn Bá Kiến. Do vậy, họ phải mượn một sức mạnh từ bên ngoài chứ ko phải từ thực chất của họ. Điều này dễ nhận thấy qua việc mỗi lúc Chí Phèo thi hành một phi vụ thì trước hết anh phải uống cho thật say.Thế rồi con ma men quái ác thay Chí làm mọi điều tội trạng.
– Nhưng Bá Kiến đâu phải tay vừa. Quá thân thuộc với những tay đầu bướu đầu bò cực chẳng đã đấy xưa nay, ông ta đã nắm được thóp của họ. Bằng đồng tiền và thủ đoạn mềm nắn rắn buông, ông ta đưa họ vào quỹ đạo: gây tội trạng, xâm hại người khác ngoài mình. Bá Kiến đã điều tiết được sức mạnh xâm hại đó. Dần dần kẻ xâm hại bị trở thành kẻ bị xâm hại hoặc kẻ tự xâm hại mình. Rốt cuộc, Bá Kiến đã xâm hại Binh Chức, Chí Phèo tới hai lần.
– Năm Thọ và Binh Chức thì chẳng trừng trị được Bá Kiến. Có thể họ ko phát xuất hiện chân tướng của ông ta. Còn Chí Phèo thì khác. Anh ta hiểu mọi nhẽ, kể cả việc ko thể nào tìm được sự bình yên giữa cõi đời lúc hoàn lương. Động lực xúc tiến Chí trở lại nẻo thiện ko phải do tỉnh ngộ một lí tưởng sống nào đó nhưng do sự đánh thức bản năng người trong Chí.
– Trở lại với diễn biến trước cái chết của Chí Phèo. Người kể tái tạo đầy dụng ý cảnh Bá Kiến bực mình trước việc bà Tư đi lâu về và ghen tuông bóng ghen tuông gió. Lần này thì chẳng liên quan gì tới Chí những cơn bực bội đấy đã khiến Bá Kiến mất khôn ngoan, ko đủ sáng suốt để phán xét tình hình nên ko thể xoa dịu cơn giận của Chí. Điều đó đã chóng đưa Bá Kiến tới cái chết.
– Nếu Nam Cao bỏ qua đoạn mô tả sự ghen tuông tuông thầm kín này nhưng ngay lập tức để cho Chí Phèo đâm chết Bá Kiến ngay sau câu nói đòi lương thiện thì ắt hắn tác phẩm sẽ kém thu hút và rất có thể rơi vào sự khuôn sáo, sách vở. Phải để nhân vật sống những phút chốc thật là người nhất thì mọi ý nghĩa xã hội cũng như bản thể nhân vật hiện lên hình tượng và thâm thúy hơn. Nói ko ngoa, nếu bà Ba gây hoạ cho Chí thì bà Tư gây hại cho Bá Kiến.
– Trước Bá Kiến bao giờ Chí cũng sợ hãi nên ước muốn báo thù của Chí sẽ chẳng mang lại kết quả như mong muốn. Chính nỗi sợ hãi cố hữu của Chí đã biến Chí thành dụng cụ trong tay Bá Kiến. Nhưng cuối cùng, lúc phẩm giá, lương tri được đánh thức, Chí đủ sức mạnh giết mổ chết Bá Kiến.

II. Tự luận

1. Vai trò của những người nữ giới trong đời Chí Phèo
Gợi ý làm bài
Trong tác phẩm, đời Chí xê dịch và biến thiên cơ bản bởi tay hai người phụ nữ, chưa kể người đã sinh ra Chí nhưng tới cả Chí cũng ko biết. Thoạt tiên, là bởi bà Ba dâm dật và sau cuối là bởi Thị Nở dở hơi. Sự liên kết với hai người phụ nữ bất tầm thường là tín hiệu cho thấy thảm kịch của đời Chí. Với bà Ba, Chí rơi vào đường tù tội. Với Thị Nở, Chí lại được làm người. Ở hai chặng của cuộc đời, Chí được người kể nhấn mạnh tới sự tự ý thức của nhân vật. Với bà Ba, Chí thấy nhục. Với Thị Nở, Chí muốn sống, muốn làm lại cuộc đời. Nhưng cho dẫu sự nhận thức có được nhấn mạnh tới đâu chăng nữa thì bao giờ cuộc đời Chí cũng tăng trưởng theo chiều trái lại:
– Ý thức về phẩm giá (cảm thấy nhục lúc bóp đùi bà Ba) thì bị tống vào tù.
– Khát khao hoà nhập số đông (muốn lấy Thị Nở, xao xuyến lúc nghe tiếng người trên đê) thì phải tự vẫn.
Thảm kịch của Chí Phèo trên bề mặt vì thế là thảm kịch của nhận thức nhưng sự tuyệt vọng trong hành động dẫn tới cái chết đầy bạo lực cuối truyện là đỉnh điểm. Thảm kịch đó bị chi phối ở tầng sâu là sự thức tỉnh tư cách và cú huých để nhận cách, lương tri Chí sống lại là cú huých tới từ sự thức tỉnh bản năng tính dục. Nếu ko có cuộc gặp mặt tình cờ giữa Chí và Thị Nở bên bờ sông hôm đó thì không thể nào có được một Chí Phèo có khả năng khóc. Bởi khóc là tín hiệu chuẩn xác nhất của sự khôi phục nhân tính. Trước đây, Huy-go cũng đã sử dụng cụ thể này để khắc hoạ nhân vật thằng gù Ca-di-mô-đô trong Nhà thờ Đức bà Pa-ri. Chí Phèo cũng có xuất xứ giống thằng gù, một đứa nhỏ bị bỏ rơi.
Môtíp nhân vật trẻ thơ bị bỏ rơi trong truyện cổ về sau thường được xác nhận (qua những tín hiệu người bỏ rơi cố tình để lại bên nó như tấm khăn, đôi giày chẳng hạn) là con của một gia đình quý phái, giàu có thậm chí là thuộc hoàng tộc. Cuối cùng những đứa nhỏ đó đều có kết cuộc hạnh phúc và người nuôi nấng chúng vì thế cũng sẽ sung sướng theo. Đây là kiểu truyện nhằm để giáo huấn lòng khoan dung của con người trước những tình cảnh thương tâm của những đứa nhỏ chơ vơ bị chối bỏ. Quả thực ko ít người từ tâm đã nghe theo luật nhân quả đấy, bị cám dỗ bởi cái kết hạnh phúc bất thần đó nên đã vui lòng nhận làm người bảo trợ cho những hoàn cảnh đáng thương kia.
Nhưng đây là truyện cổ tích và đây cũng là sự tính toán của phó Giáo chủ nhà thờ Phrô-lô lúc quyết định nhận nuôi thằng gù. Nhưng kết cuộc của thằng gù lẫn Chí Phèo đều ko thể giống như truyện cổ. Qua bao gian nan, đã sống chân tình, sau lúc thức tỉnh nhưng thằng gù và Chí Phèo đều phải chấp nhận một cái chết thương tâm: tự nguyện chết. Chết cho tình yêu được thiên thu vĩnh hằng (Ca-di-mô-đô), Chết cho lương tri con người sẽ luôn toả rạng (Chí Phèo). Cả hai đều mở màn bằng những giọt nước mắt.
Chí Phèo được đánh thức khỏi những cơn say vô tận của mình chưa phải bằng bát cháo hành như bao nhận định xưa nay nhưng trước tiên được đánh thức bởi bản năng giống đực nhưng như đã nói chủ yếu là bản năng tính dục. Tiếp đó còn là bản năng nữa là bản năng bầy đàn, khát khao được trở lại với những nguyên tắc bầy đàn. Chỉ hi vọng Thị Nở “sẽ mở cánh cửa” cho Chí. Chỉ cần thị chấp nhận thì số đông cũng sẽ chấp nhận Chí.
Những vật cản xuất hiện. Bà cô Thị Nở ngăn cản cháu mình vì sự đố kị, bởi bà ta chưa được thoả nguyện dục tính như mọi phụ nữ tầm thường khác: “Cũng có lúc bà tủi cho thân bà. Bà nghĩ tới cái đời dài dằng dặc của bà, ko có chồng. Bà thấy đau xót lắm. Bà uất ức, uất ức với người nào ko biết.” Ấn ức đó được ngụy trang bằng một loạt những đạo lí cũ mèm: “Người nữ giới tiết hạnh (Nam Cao mỉa mai bà ta) thấy cháu bà sao nhưng đĩ thế! Thật đốn mạt (…). Ngoài ba mươi tuổi… người nào lại còn đi lấy chồng (…). Nhưng mà có lấy thì lấy người nào chứ?… Đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao, nhưng lại đi đâm đầu lấy một thằng ko cha (…). Nhục nhã ơi là nhục nhã! Hỡi ông cha nhà bà!”. Lời lẽ viện dẫn để chửi mắng cô cháu thật thấu tình đạt lí quá mức. Trong trường hợp đấy Thị Nở biết phải làm sao? . Nhưng tất cả mọi lí lẽ, mọi viện dẫn, mọi lập luận đó đều nhằm để che đậy một động cơ thật của người nữ giới năm mươi tuổi đấy: cũng muốn được chung đụng xác thịt với một người đàn ông cho dẫu đó có là Chí Phèo.
Thực chất của mọi suy tính, mọi hành động và lập luận của các nhân vật trong Chí Phèo đều ko thoát khỏi những bản năng gốc đấy. Có thể nói, Nam Cao đã thực hiện được sự hội thoại lạ mắt giữa những vấn đề xã hội và những vấn đề thuộc về thực chất con người. Ông đã ý thức rất rõ điều này nên trong văn bản lúc mô tả tiếng nói và hành động nhân vật, nhà văn đã ko ít lần sử dụng lối giễu nhại: “bà tủi thân cho bà”, “bà gào lên như con mẹ dại”, “Con người đấy có quyền nói thế, bởi con người đấy năm mươi tuổi rồi, năm mươi tuổi còn người nào lấy chồng.”
Như thế vì hai người phụ nữ ko được thoả nguyện dục tính libiđô, bà Ba và bà cô Thị Nở, nên một lần Chí bị tống vào tù và lần khác thì Chí bị đoạn tuyệt quyền làm người, cụ thể ở đây là làm chồng. Như thế nguyên nhân của mọi xung đột, của mọi vấn đề mang tính xã hội đều xuất phát từ những xung đột rất thầm kín, đầy bản năng của con người. Tầng sâu của dục vọng xác thịt, tuy ko được người kể đặc tả nhưng nó là xuất phát điểm để tạo nên chuỗi xung đột tiếp theo, qua đó những vấn đề thời đại, xã hội mới có dịp phát lộ.
Trong số mười hai nhân vật (Chí Phèo, Bá Kiến, Binh Chức, Năm Thọ, Thị Nở, Bà cô Thị Nở, Bà Ba, Con gái Tự Lãng, Đội Tảo, Lí Cường, Mụ hàng rượu, Tự Lãng) xuất hiện trong tác phẩm (trừ một vài nhân vật phụ khác như bà Cả, bà Hai (vợ Bá Kiến), vợ Đội Tảo…) thì mụ hàng rượu và Tự Lãng tuy được miêu ta trực tiếp trong quan hệ với Chí Phèo nhưng ta khó xác định được hai kiểu bản năng gốc như đã chi phối mười nhân vật còn lại. Mụ hàng rượu là nhân vật ko quan trọng của tác phẩm nên Nam Cao ko tập trung đặc tả. Tuy nhiên, Tự Lãng vẫn có vai trò quan trọng trong diễn biến truyện. Có thể xem lão là một cái tôi đồng dạng với Chí Phèo. Lão lớn tuổi hơn Chí, lão cô độc và bảo tám năm nay “vợ lão chết”, “con gái lão chửa hoang bỏ lão đi” nên lão buồn (cũng có phần vì dục tính libiđô ko được xả stress), lão tìm nguồn vui từ rượu. Lão gọi bạn rượu tình cờ Chí Phèo là “Ông bạn lạc đường ở cung trăng”. Triết lí mời rượu của lão là “có giàu có sang, có làm nên ông cả bà lớn nữa, chết cũng ko người nào gọi là “cụ lớn mả”! Lão sống tới hơn năm mươi năm rồi nhưng chưa thấy một cụ lớn mả nào sốt! Chỉ có cái mả, cái mả đất. Người nào chết cũng thành cái mả, say sưa chết cũng thành cái mả, lo gì?” Chí Phèo tỏ ra đồng cảm với Tự Lãng và gián tiếp Tự Lãng giúp Chí thức tỉnh lương tri. “Người ta đứng lên bằng cái gì?”. Câu hỏi bâng quơ này lúc đó Chí Phèo chưa trả lời song nó hắn vẫn đồng hành trong tâm trí Chí để ngay sau đó, Chí gặp Thị Nở bên bờ sông, nếm khoái cảm xác thịt, biết yêu và biết “đứng lên bằng cái gì”. Các nhân vật nữ của Chí Phèo, trừ mụ hàng rượu, đều liên quan tới vấn đề tình dục. Từ bà Ba, bà Tư tới Thị Nở, bà cô Thị Nở, vợ Binh Chức tới cô con gái của Tự Lãng đều phải đối đầu với vấn đề bản năng gốc của mình. Ắt hẳn, Nam Cao thấu hiểu, thời của ông và cả nghìn năm trước đó, phụ nữ Việt Nam đều bị ẩn ức libiđộ dày vò do phải khuôn theo lễ giáo phong kiến.
Điểm đặc trưng của thiên truyện là người kế thông mô tả trực tiếp bà Ba, trong lúc đó thì Thị Nở và bà cô Thị Nở trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm. Bà Ba hiện diện qua dòng hồi ức của người kể: “Người bà đấy phấp pháp, má bà đấy hây hây.” Nhưng chủ yếu, bà ta vẫn hiện rõ qua dòng hồi ức của chính Chí Phèo. Dòng hồi ức này được người kể đọc lại: “Vả lại bị một con nữ giới gọi tới nhưng bóp chân! Hắn thấy nhục hơn là thích, huống hồ lại sợ (…). Bà thấy xa xôi ko được phải làm tới nơi. Bà bảo hắn rằng: “Mày thực thà quá! Đàn ông gì hai mươi tuổi nhưng đã như ông già (…). Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư?”.
“Nhưng hắn thèm lương thiện”.
Kí ức của Chí Phèo về bà Ba là kí ức về một phụ nữ nặc nô với tính dục bạo liệt, trơ trẽn. Hắn thấy nhục vì đấy chẳng phải là yêu đương. Điều đó chúng tôi dẫu cho được sinh ra nơi cái lò gạch bỏ trống nhưng thiên lương Chí Phèo vẫn trong sáng. Hắn vẫn luôn khát khao được sống cuộc đời tầm thường “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải” của một tình cảm mến thương thực sự. Vậy nên, hướng thiện là bản năng then chốt ở nhân vật này. Thế nhưng, như nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến chính nhà tù thực dân phong kiến đã làm băng hoại thiên lương của Chí. Trở lại làng Vũ Đại, Chí ko có mong ước gì hơn là trả thù Bá Kiến người gây ra tấn thảm kịch cho đời Chí. Nhưng hình thức Chí Phèo sự dụng để đối đầu với Bá Kiến quả ko phải là tối ưu: rạch mặt ăn vạ. Mục tiêu là gây họa cho Bá Kiến. Giả thiết đặt ra ở đây là vì sao ngay lần đấy Chí Phèo ko đâm chết Bá Kiến nhưng phải đợi mãi sau này lúc bị Thị Nở cự tuyệt, Chi mới hành động? Chí Phèo muốn dùng sức mạnh côn đồ để uy hiếp Bá Kiến nhưng thực chất việc làm của Chí lại bộc lộ sự yếu thế của Chí, Chí phải mượn rượu lúc ko có rượu, cái sự cố hữu trong Chí trỗi dậy. Thì ra, trước Bà Kiến bao giờ Chí cũng sợ hãi nên ước muốn xâm hại để báo thù của Chí sẽ chẳng mang lại kết quả như mong muốn. Cuối cùng, chính nỗi sợ hãi cố hữu của Chí đã biến Chí thành dụng cụ trong tay Bá Kiến.
Cần xem xét, Chí Phèo chỉ gây ra tội trạng trong lúc say. Say là giải pháp hữu hiệu để Chí chôn vùi ý thức. Chỉ sợ ý thức thức tỉnh sẽ mang lại cho mình nỗi đớn đau vô bờ. Như thế, nếu tỉnh rượu, ý thức làm người của Chí sẽ trỗi dậy. Nhưng đã trót thành quỷ dữ thì Chí khó có thể được xã hội chấp nhận trở lại vào số đông những con người tầm thường. Chí luôn ý thức được điều đó. Chính vì thế thảm kịch của Chí diễn ra túc trực và ngay trước lúc gặp Thị Nở, Chí đã tự trang bị cho mình một kiểu vô thức mới: vô thức của sự quên lãng.
Đánh mất lịch sử, con người ko còn là người nữa. Chí ko chỉ ko nhớ nổi tuổi của mình nhưng ko còn khả năng giao tiếp với xã hội. Hắn mở mồm ra là chửi. Sống trong quên lãng chí muốn tự đánh mất mình. Nhưng lúc bản năng tình dục được khơi dậy, Chí móc nối cuộc đời quỷ dữ của mình với Thị Nở và hi vọng thị sẽ đưa Chí trở về với mọi người. Xem ra, bản năng hướng thiện là bản năng có sức mạnh vô song hơn mọi bản năng khác. Nó luôn chờ thời cơ để lên tiếng đòi quyền lợi chính đáng cho bản thân mình. Chỉ muốn làm người lương thiện.
Nhung “Người nào cho tao lương thiện”…
Bởi lúc đã được nếm mùi nhục cảm, lúc đã biết lắng tai được tiếng nói của những con người tầm thường, lúc “nghĩ tới rượu” hắn biết “rùng mình”. thì Chí ko còn là quỷ dữ nữa. Hắn yếu mềm như trước đây đã từng yếu mềm. Hắn ý thức ra rằng hắn ko phải là kẻ mạnh nhưng “muốn ác, phải là kẻ mạnh”. Do vậy, hắn ko thể nào ác. Hắn đã biết “hối hận về tội ác”… Hàng loạt nhân thức này đang dần đưa Chí trở lại với cuộc đời, với bản tính thiện sơ khai của nó. Nếu Thị Nở chấp nhận Chí…
Nhưng giả thiết đấy sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực. Cho dù thị có “kiêu ngạo vì đã cứu sống cho một người,” cho dù thị “thấy ngường ngượng nhưng thích” lúc nghĩ tới hai chữ vợ chồng… thì thị vẫn chịu khuất phục bởi một bản năng xâm hại tối thượng: tính đố kị của con người, nhưng nguy hại thay lại là của người có quyền uy tuyệt đối. Bản năng tình dục trong Thị Nở ko thắng được bản năng xâm hại của bà cô. Đấy là điểm khác lạ giữa Thị Nở và Chí Phèo. Và đấy là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Chí. ở đây ta ko thể trách Thị Nở. Bởi ngay từ đầu Nam Cao đã cho thị là người dở hơi rồi mà lại.
Cho tới lúc chết, Chí Phèo ko mạnh hơn Bá Kiến. Thậm chí ngay với chính bản thân mình, Chí cũng chẳng mạnh hơn. Hành động của Chí bao giờ cũng mượn qua hơi rượu. Vậy nên hành động xâm hại của Chí lại chính là việc tự xâm hại chính bản thân mình. Càng lún sâu vào trục đường tội trạng, Chí càng tự huỷ hoại hết nhân tính của mình. Nhưng ngay chính việc mượn rượu để hành động đã nói lên sự khắc khoải về bản thể của kẻ lỡ sa cơ này. Xét từ góc độ này, Chí Phèo có nét thân thiện với Giăng Van-giăng của Huy-gô. Cả hai đều là nông dân lương thiện, bị pháp luật bất công tống vào tù. Nhà tù làm thay đổi tính tình họ. Sự ruồng rẫy của xã hội càng khiến họ thù hận con người… Tới đây cách khắc phục của Nam Cao khác với Huy-gô và nó cũng cho thấy sự không giống nhau cơ bản giữa hai văn pháp hiện thực và lãng mạn. Nếu Huy-gô để Giăng Van-giăng gặp linh mục Mi-ri-en, người đánh thức thiện tính trong Giăng và hướng cuộc đời của người tù khổ sai đang vô vọng đấy sang nẻo thiện, thì Nam Cao để cho Chí Phèo tìm tới rượu và đi trả thù Bá Kiến, một kẻ ác và thế là Chí trở thành kẻ ác. Lô-gích hành động của Chí Phèo là hợp pháp nhưng vì thế thiên tính thiện trong con người này càng bị huỷ hoại và ko có điều kiện toả sáng.
Bản năng tình dục cũng như bản năng xâm hại trong tác phẩm đều chi phối Chí Phèo theo cả hai mặt tốt và xấu. Vì dục tính của bà Ba nhưng Chí phải đi tù. Nhưng nhờ sự “hớ hênh” của Thị Nở nhưng thiên tính thiện trong Chí được đánh thức. Cũng thế, vì bị Bá Kiến xâm hại nên Chí trở thành quỷ dữ làng Vũ Đại, song lúc thực chất thiện trong Chí sống lại, Chí đã xâm hại trở lại Bá Kiến, giết mổ chết y để chứng tỏ trị giá làm người của mình sẽ ko bị phai mờ.
Tính biện chứng trong vận động tính cách, hành vi của nhân vật trình bày qua các mặt đối lập đã cho thấy sự am tường thâm thúy của tác giả về thực chất của con người và quy luật vận động thế tất của xã hội đặt trên sự vận động bản năng trong vô thức của từng cá thể. Nam Cao lớn lao là nhờ ông đã biết khai thác tối ưu những phạm trù cơ bản trong cõi vô thức của con người. Chí Phèo lớn lao là nhờ cho dù bản thân bị tàn phá bởi hai bản năng gốc xâm hại và tính dục từ người khác nhưng anh ta đã biết đứng lên bằng cả hai bản năng đó và sâu xa hơn nữa là bằng sự tinh túy từ cốt cách của mọi bản năng: bản năng hướng thiện. Đấy là điểm luôn gặp mặt trong cách nhìn nhận về con người của bất kì cây bút trác việt nào của nhân loại.

2. Nhận định của anh (chị) về giọng điệu “Chí Phèo”
Gợi ý làm bài
Dẫu chưa tạo được cuộc cách mệnh về ngôn từ mang tầm cỡ toàn cầu, nhưng Chí Phèo của Nam Cao vẫn luôn là tuyệt bút, luôn thu được sự yêu quí của người Việt. Đặt trọng tâm cái nhìn tường thuật vừa lên toàn cầu nội tâm nhân vật vừa dẫn dắt tới những xung đột cơ bản của tư nhân, thời đại, Nam Cao cũng đã tạo được lối viết lạ cho tác phẩm. Tiếng nói kể chuyện của ông luôn có ý thức xâm nhập vào cõi bí hiểm trong vô thức con người. Điều đó ko chỉ giúp sáng tác của ông thành công ở phương diện tư tưởng nhưng còn mang lại một giọng điệu lạ mắt cho Chí Phèo.
Trước lúc khảo sát giọng của nhân vật trung tâm, chúng tôi muốn điểm qua giọng của một vài nhân vật trong tác phẩm này. Độc giả hẳn còn nhớ giọng của cụ Bá lúc nói với những phần tử tha hoá như Năm Thọ, Chí Phèo: cứ mở mồm là quát để nắn gân. Cuộc đời cụ, theo Nam Cao thì có rất nhiều lần xuống giọng, cứ một lần là có một thắng lợi. Nhưng lần sau cuối, Bá Kiến ko thành công phải… đi chầu Diêm Vương. Sự xê dịch giữa hai giọng điệu chứng tỏ vị thế ổn định đầy tàn nhẫn của con người này. Việc xuống giọng, với Bá Kiến cũng chỉ là một hình thức khác của chất giọng quyền uy.
Tới giọng của Thị Nở. Con người “ngớ ngẩn” đấy đâu có nhiều lời, có nói thì cũng chẳng thành câu cú gì: chỉ giỏi lườm, cấu véo. Đó thế nhưng giọng nàng cũng rành mạch lắm, nghe lên là biết đích thị ngay của người nào rồi: “Vừa thổ hả?”, “Đi vào nhà nhé?”, “thì đứng lên”. Đáp lại những lời yêu đương đấy, Chí ko kém: “Giá thế này mãi thì thích nhỉ?”, “Hay là đằng đấy sang đây ở một nhà với tớ cho vui?”. Thực là xứng đôi vừa lứa. Song điều chúng tôi quan tâm ở những hội thoại “cụt lủn” (phần lớn là những câu hỏi thiếu phúc đáp) này là ở ý nghĩa hụt hẫng của thân phận nhưng nó chuyển tải. Trong hội thoại, nếu Bá Kiến nói càng nhiều càng rõ ràng bao nhiêu thì Chí, Thị Nở càng rất ít nói và kém phần tự tin bấy nhiêu. Điều này báo hiệu một kết cuộc bất tầm thường trong các quan hệ nhưng trước tiên cuộc tình của họ tan vỡ và sau rốt là cái chết của Chí Phèo.
Giọng của người kể chuyện rất đặc trưng. Nhiều nhà nghiên cứu thường nhắc tới kiểu giọng văn trắng ở tuyệt bút này. (Tất nhiên thế nào là “trắng” và thế nào là “ko trắng” thì tuỳ thuộc vào ý kiến của từng người). Chúng tôi đồng ý với nhận định trên nhưng cần phải xét về cấp độ. Xưa nay chúng ta thường nhắc tới kiểu giọng văn trong sáng Vụ án của Káp-ka và Người xa lạ của Ca-mút. Ở đó, người kể chuyện tường thuật lại các sự kiện (kể cả sự kiện của 1 cuộc đời mình) nhưng ko hề tỏ bày chút xúc cảm nào. Còn Nam Cao lúc Chí Phèo là “hắn”, Thị Nở là “thị” thì đã tạo được thái độ khách quan lạnh lùng.
Song lạnh lùng chưa tới mức đoạn tuyệt như ở hai bậc tiền bối đấy bởi lẽ: (1) Tác phẩm còn nhiều đoạn mô tả tự nhiên (chẳng hạn, ánh trăng xộc xệch theo chân Chí) hoặc ngoại cảnh (tiếng thuyền chài đánh cá, giọng người đi chợ…). Các cảm thán từ (trời ơi, thương ôi) nên ít nhiều xúc cảm của người kể đã bộc lộ. Do vậy, sắc thái giọng văn của tác phẩm, theo chúng tôi chỉ nên xếp vào hàng tương đối “trắng” hoặc trung tính nhưng thôi.
Bao trùm lên toàn thể Chí Phèo là kiểu giọng gián tiếp của người kể phân tích tâm lí nhân vật. Điều này mang lại hai hiệu quả:
1) Hội thoại trực tiếp của các nhân vật rất hiếm và phần lớn là bị hoà tan trong lời dẫn dắt tâm trạng của người kể chuyện. Nếu tính số lượng lời thoại (xuất hiện với dấu gạch đầu dòng) chúng tôi thống kê được năm mươi tham thoại.
2) Lời nửa trực tiếp xuất hiện nhiều xen trong những biến tấu giọng điệu đột ngột. Hãy quan sát giọng của người kể chuyện và giọng của Thị Nở lúc thị sang nhà tình nhân để “đổ cơn tức” bởi bị bà cô mắng: (a) “Thị giậm chân xuống đất rồi nhảy cẫng lên như thượng đồng. (b) Hắn thú vị quá, lắc lư cái đầu cười. (c) Lại còn cười! (d) Nó nhạo thị, trời ơi! (e) Thị điên lên mất, trời ơi là trời”. Phát ngôn (a), (b) là lời mô tả của người kể chuyện. Phát ngôn (c), (d), (e) thoạt tiên là lời phân tích tâm trạng của Thị Nở, nhưng đọc kĩ chúng ta sẽ có các giọng sau: (c) là lời của Thị Nở, (d), (e) (được in nghiêng) là lời của người kể chuyện. Nếu chúng ta nối các phần (c), (d), (e) (ko in nghiêng) thì có lời của Thị Nở, lại còn cười trời ơi, trời ơi là trời.
Tuy nhiên, việc phân tích rành mạch này chỉ là một cách tiếp cận. Cách hiểu khác là xếp các phát ngôn (c), (d), (e) vào kiểu lời nửa trực tiếp bởi ở đó giọng của người kể chuyện và giọng của nhân vật cùng đan cài, hoà tan. Đặt các giọng gần nhau hoặc xâm nhập lẫn nhau, Nam Cao đã thành công trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, trong việc thông minh lên một toàn cầu ngôn từ tan vỡ. Và ba động của ngôn từ đấy cũng là sóng đời bất trắc của toàn cầu thực tại đây âu lo. Kĩ thuật này tuy làm chậm vận tốc tăng trưởng truyện song nó vẫn tạo ra được nét quyến rũ bởi tính tình nhân vật được phô bày dần qua việc thay đổi giọng của những phát ngôn.
Khác với Bá Kiến, Chí có rất nhiều kiểu giọng nhưng tuỳ từng trường hợp để mang ra ứng phó. Chỉ có giọng bên trong của độc thoại, độc thoại nội tâm (những suy tính trước cụ Bá, suy nghĩ về hành vi bóp chân cho bà Ba) và giọng bên ngoài bao gồm: giọng của tiếng chửi, giọng tỏ tình, giọng của con người sợ sệt lúc hơi rượu đã tản mát bay, giọng dõng dạc của con người đòi lương thiện… Chỉ bấy nhiêu kiểu giọng cũng đủ ghi nhận tính chất cơ cùng của kiếp người này. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng tôi muốn nói đến tới bước chuyển biến giọng điệu giữa người kể chuyện và Chí nhưng tập trung nhất là ở khổ mở đầu.
“Hắn vừa đi vừa chửi (…) mở màn hắn chửi trời” là lời của người kể chuyện. Tiếp đó “Có hề gì? Trời của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời” vẫn là giọng của người kể chuyện phân tích tâm lí nhân vật, nhưng trên nền đấy đã xuất hiện bóng vía suy luận của Chí (có hề gì?). “Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại”. Nhưng cả làng Vũ Đại người nào cũng tự răn “chắc trừ mình ra”, “Ko người nào lên tiếng cả”. Tới đây dòng tâm trạng của Chí chuyển biến. Lời của Chí dồn dập hơn. Lô-gích suy luận bên trong dần chuyển thành lô-gích bên ngoài ở hành vi lời nói, giọng của Chí tăng dần lấn lướt giọng người kể chuyện để xuất hiện: “Tức thật! Tức thật! ồ! Thế này thì tức thật. Tức chết đi mất”. Giọng của Chí hoàn toàn chiếm ưu thế. Với kĩ thuật này, dòng nội tâm nhân vật dần dần bị lộn trái ra ngoài bởi việc xâm nhập từng bước giọng của Chí vào giọng người kể chuyện. “Con người ý thức” của Nam Cao, như một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra, có thể nói ko ngoa rằng, đó là “con người giọng điệu” đang tự ý thức khẳng định mình.
Giọng điệu giữ một vai trò rất quan trọng trong thông minh nghệ thuật. Nó ko những chỉ rõ bản sắc, thiên tài của nghệ sĩ nhưng còn ghi nhận sự kiên trì của nhà văn trên chất liệu. Thế kỉ XX trong văn học được mệnh danh như là thế kỉ của những canh tân và giọng điệu là một trong những mục tiêu để nhà thông minh hướng tới. Chí Phèo chưa đổi mới triệt để bằng Vụ án, Người xa lạ về giọng điệu và cũng nặng nề hơn bởi giọng của người kể chuyện ở thứ bậc ba luôn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, tuyệt bút đã tạo nên một dung mạo riêng về giọng điệu: hoà tiếng chửi của một thằng say vào lời xót xa của một người kể chuyện tỉnh, khá lạnh lùng song tận cùng vẫn là tiếng “đoạn trường” cho kiếp cùng khổ.

Xem thêm:   Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh khô

3. Anh (chị) có nhận xét gì về kết cấu của Chí Phèo
Gợi ý làm bài
– Đọc Chí Phèo, người đọc biết toàn thể cuộc đời Chí Phèo, kể từ lúc mở mắt chào đời cho tới lúc giết mổ Bá Kiến rồi tự vẫn. Cách kể hướng về biên niên sử của nhân vật chính của tác phẩm thường là độc quyền của tiểu thuyết. Truyện ngắn hiếm lúc tái tạo đầy đủ cuộc đời nhân vật. Đây là đặc điểm lạ mắt của Chí Phèo. Tuy nhiên, để làm giảm số trang cho truyện (nếu ko thì truyện ngắn này có nguy cơ trở thành tiểu thuyết) thì ngoài việc lược bớt các sự kiện (chẳng hạn như ko nói rõ người nào là người sinh ra Chí và hoàn cảnh sống, tâm trạng của người mẹ đấy ra sao lúc từ bỏ đứa con), Nam Cao còn sử dụng kĩ thuật hồi cố. Giải pháp này được trao cho người kể và buộc người kể trở thành người hiểu rõ hết mọi ngóc ngóc trong đời Chí. Quả thực, lí lịch của Chí Phèo dần hiện lên rõ nét qua lời kể điềm tĩnh đầy chất suy tư: “Một anh đi thả ống lươn…”
– Nhờ đoạn hồi cố này nhưng người đọc ko chỉ nhận diện rõ hoàn cảnh thương tâm của Chí nhưng còn thấu hiểu trọng tâm câu chuyện được đặt ở đây. Nếu làm phép thống kê, ta thấy đoạn kể về quá khứ của Chí trước lúc bị hư hoại nhân tính “hắn vừa đi vừa chửi” là vô cùng ngắn (chưa tới một trang) so với đoạn mô tả Chí trong sự tha hoá (khoảng 20 trang). Hơn nữa, ngay từ lúc mở đầu, hình ảnh Chí Phèo “vừa đi vừa chửi” đã bao hàm thông báo của người kể rằng câu chuyện mở màn bằng một con người ko tầm thường nữa. Trọng tâm truyện đặt vào khát vọng hoàn lương chứ ko phải vào quá trình tha hoá. Thế nhưng, với tư cách là một nhà hiện thực cần mẫn, Nam Cao vẫn cố tái tạo lại quá khứ của Chí Phèo để báo cho người đọc biết vì sao Chí Phèo ra nông nỗi này. Hoàn cảnh nghiệt ngã của xã hội đã tiếp tay cho Bá Kiến trong việc làm biến chất Chí Phèo.
– Tuy nhiên, cấu trúc bề mặt vẫn hàm chứa một ý đồ nghệ thuật vượt ra ngoài phạm vi tái tạo trọn vẹn cuộc đời Chí. Người kể dùng quá khứ của Chí Phèo đó để đối chiếu với nhiều tình cảnh tương tự quá khứ của Chí. Đấy chính là cuộc đời của Binh Chức và Năm Thọ. Lối kể nghe chừng đơn giản ngỡ như gặp đâu kể đó song lại chuyển tải một kĩ thuật tự sự bậc thầy: đồng quy nhiều số phận để nói rằng trong xã hội đấy Chí Phèo ko phải là cá biệt.
– Ba cuộc đời trong quá khứ đó tạo ra ba tầng truyện hay ba tuyến tình tiết: truyện về Năm Thọ, truyện về Binh Chức và truyện về Chí Phèo. Ngoài ra, truyện còn có Tự Lãng sống một mình vì con gái chửa hoang bỏ lão nhưng đi. Nguyên nhân dẫn tới các cảnh đời bị thương của họ ít nhiều đều xuất phát từ chuyện nữ giới. Năm Thọ thì đưa vợ con ra làm cái cớ để uy hiếp Bá Kiến: kẻ dám giết mổ vợ con mình thì đâu có chùn tay trước người khác. Binh Chức thì cũng đưa vợ con ra dọa nạt Bá Kiến. Nhưng lí do thì khác với Năm Thọ. Binh Chức ngầm đổ tội Bá Kiến tiêu tiền tài mình gửi về cho vợ. Bá Kiến phải nhượng bộ. Chí Phèo thì lại là nạn nhân của Bá Kiến. Ông ta ghen tuông Chí vì Chí bị bà Ba bắt bóp đùi. Như thế nền tảng của tình tiết hay của xung đột cơ bản của Chí Phèo là chuyện đàn ông – nữ giới. Từ đây các xung đột xã hội hiện lên. Đây là điểm đặc trưng trong xung đột của Chí Phèo. Nó giảng giải vì sao lúc những quan hệ xã hội đã thay đổi thì Chí Phèo vẫn còn được tiếp tục đón đọc.

Xem tiếp các bài soạn để học tốt môn Ngữ Văn lớp 11

– Soạn bài Một số thể loại văn học: Thơ, truyện
– Soạn bài Phong cách tiếng nói tạp chí (tiếp theo)

Soạn bài Chí Phèo, phần 2, tác phẩm, ngắn 2

Câu 1: Cách vào truyện lạ mắt của Nam Cao và ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo. 

Nam Cao mở đầu tác phẩm bằng tiếng chửi “hắn vừa đi vừa chửi, bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi”

⇒ Bộc lộ tâm trạng điên cuồng, bất mãn tột độ của một con người ý thức được rằng mình đã bị cả xã hội ruồng bỏ.

⟹ Cho thấy sự tha hóa trong tâm hồn của một kiếp sống cô độc bi mọi người xa lánh

Câu 2: Ý nghĩa cuộc gặp mặt giữa Thị Nở và Chí Phèo và diễn biến tâm trạng của Chí Phèo. 

* Ý nghĩa cuộc gặp mặt giữa Thị Nở và Chí Phèo

Gặp mặt với Thị Nở là bước ngoặt giúp Chí khát khao trở lại “làm người”, trở lại với ước mơ xưa cũ, và đánh thức phần người trong hắn. ⇒ Trình bày tư tưởng nhân đạo thâm thúy của Nam Cao với những người nông dân, khốn khổ bị tha hóa, bị tước đoạt tư cách làm người.

 * Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo.

Thị Nở xuất hiện với nồi cháo hành khiến Chí vô cùng ngạc nhiên. Bởi đây là lần trước tiên hắn được người ta cho nhưng ko cần cướp giật hay rạch mặt ăn vạ

– Liên tục là những cảm nhận “lần trước tiên” của sự thức tỉnh làm người trong Chí với cuộc sống thôn quê mình sống. Ý thức và khát khao được sống trỗi dậy mạnh mẽ trong Chí.

– Chí khát khao được trở về với cuộc sống lương thiện

– Tưởng tượng ra tương lai với Thị

Câu 3: Tâm trạng của Chí Phèo lúc bị Thị Nở từ chối chung sống 

Thoạt tiên Chí Phèo vô cùng ngạc nhiên rồi sau đó như chợt hiểu ra, hắn đớn đau, vô vọng

Lúc Thị Nở từ chối Chí⟶ hắn “ôm mặt khóc rưng rức” và luôn thấy “thoảng mùi cháo hành”.

⟶ Khóc cho những uất ức, khóc cho số phận, cuộc đời vẫn luôn khát khao lương thiện của Chí.

“Tao muốn làm người lương thiện. Ko được, người nào cho tao lương thiện”

⟶ Tiếng gào thét từ sâu thẳm bên trong thực chất rất người của Chí, luôn mong muốn sự tốt đẹp, khát khao lương thiện.

Chí Phèo xách dao ra đi tới nhà Bá Kiến để đòi lại quyền làm người lương thiện. Nhưng kể cả lúc chính tay giết mổ kẻ đã biến mình thành quỷ thì Chí Phèo cũng ko thoát khỏi thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người, và phải tự kết liễu cuộc đời mình.

⟹ Cái chết của Chí, lên án xã hội phong kiến đương thời thối nát, tàn bạo, biến con người lương thiện thành những con quỷ. Khiến họ phải đi tới bước đường cùng là cái chết nhưng vẫn ko giành lại phần lương thiện đã bị cướp đi.

Câu 4: 

Nam Cao xây dựng thành công hình tượng nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm là Chí Phèo, thông qua đó lên tiếng tố cáo xã hội phong kiến đương thời, đồng cảm xót xa cho số phận của những người nông dân.

Tư tưởng nhân đạo thâm thúy, tấm lòng mến thương, trân trọng những mảnh đời khốn khổ, xấu số được tác giả xây dựng thành công  qua nhân vật Chí Phèo – một người nông dân bị tha hóa, bị cả xã hội ruồng bỏ, ko có quyền làm người.

⟹ Chí Phèo là hiện thân của những con người xấu số, những người lầm đường lạc lối muốn trở về với số đông.

Câu 5: Rực rỡ trong tiếng nói kể chuyện của tác giả và tiếng nói nhân vật: 

– Giọng điệu tường thuật được liên kết hài hòa giữa hội thoại với độc thoại, giữa lời gián tiếp và lời nửa tiếp

– Có sự lồng ghép giữa tiếng nói người kể chuyện và tiếng nói nhân vật. Tiếng nói giản dị, thân thiện, trực tiếp bộc lộ xúc cảm.

Câu 6: Tư tưởng nhân đạo mới mẻ và thâm thúy của Nam Cao trình bày trong truyện ngắn :

Nam Cao đã phát hiện và mô tả những phẩm chất tốt đẹp, tiềm tàng của con người (người nông dân, người lao động) ngay cả lúc họ bị tước đoạt quyền làm người, trở thành con quỷ, trở thành kẻ bị xã hội ruồng bỏ.

————————HẾT——————————

Kế bên nội dung đã học, các em cần sẵn sàng bài học sắp tới với phần Phân tích vẻ đẹp của Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù để nắm vững những tri thức Ngữ Văn 11 của mình.

Tìm hiểu cụ thể nội dung phần Soạn bài Đọc thêm: Cha con nghĩa nặng để học tốt môn Ngữ Văn 11 hơn.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-chi-pheo-phan-2-tac-pham-38365n.aspx

Từ khoá liên quan:

soan bai chi pheo phan 2

, soan bai chi pheo phan tac pham, soan bai chi pheo trang 155 SGK Ngu Van 11,