Chất lượng đào tạo là gì

TÓM TẮT:

Bài viết này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của các trường đại học-cao đẳng (ĐH-CĐ) trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tìm thấy 8 nhân tố gồm: cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, môi trường học tập, dịch vụ hỗ trợ, năng lực người học, tổ chức và quản lý đào tạo, cách đánh giá kết quả học tập là các nhân tố chính tác động đến chất lượng đào tạo của các trường ĐH-CĐ. Để có được kết quả nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự trợ giúp của phần mềm SPSS.

Từ khóa: Nâng cao, chất lượng, đào tạo, đại học-cao đẳng, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề

Chất lượng đào tạo của các trường ĐH-CĐ) của Việt Nam hiện là một vấn đề lớn luôn được xã hội và Chính phủ quan tâm đặc biệt bởi lẽ chất lượng đào tạo của chúng ta không cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn khi trong một thời gian ngắn hàng loạt các trường ĐH-CĐ được thành lập hoặc nâng cấp. Có hơn 20% số trường được thành lập hoặc nâng cấp trong khoảng 10 năm nay. Thực tế cho thấy quy mô đào tạo của các trường ngày càng gia tăng đột biến, trong khi đó đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo,… chưa được cải thiện nhiều. Hơn thế nữa, các sinh viên được đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của xã hội. Khi ra trường, các doanh nghiệp tuyển dụng sinh viên phải đào tạo lại. Điều này gây lãng phí về thời gian và vật chất của sinh viên và xã hội. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu và đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nhưng chất lượng đào tạo của các trường vẫn còn thấp, vẫn còn nhiều bất cập. Do vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là việc làm hết sức có ý nghĩa.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Một số khái niệm cơ bản

Chất lượng đào tạo: Theo Cheng và Tam (1997) định nghĩa chất lượng đào tạo là đặc trưng của một loạt yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra của hệ thống giáo dục đào tạo mà nó cung cấp các dịch vụ làm thỏa mãn nhu cầu người học và nhu cầu của xã hội về đào tạo.

Thành (2011) chỉ ra rằng, chất lượng đào tạo là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định. Đang (2011) lại cho rằng, chất lượng đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của trường học. Mục tiêu trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm sứ mạng, các mục đích, đặc điểm của chương trình đào tạo. Mục tiêu phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ và các nguồn lực của nhà trường nhưng đồng thời mục tiêu đào tạo phải đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế – xã hội đất nước.

Kết hợp các định nghĩa trên, bài viết này sử dụng thuật ngữ chất lượng đào tạo như sau: Chất lượng đào tạo là sản phẩm đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra mà các trường đã đưa ra, đáp ứng nhu cầu của người học và nhu cầu của xã hội.

2.2. Phương pháp nghiên cứu và phân bổ mẫu điều tra

Tác giả thu thập thông qua nghiên cứu định tính với bảng câu hỏi phỏng vấn và nghiên cứu định lượng bằng việc tiến hành điều tra khảo sát.

  • Nghiên cứu định tính:
Xem thêm:   Transition Là Gì - Nghĩa Của Từ Transition Trong Tiếng Việt

Nghiên cứu được tác giả thực hiện qua các bước sau: Thứ nhất, nghiên cứu tổng hợp lý thuyết từ các nghiên cứu trước đây nhằm xây dựng mô hình lý thuyết. Thứ hai, sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm với 48 sinh viên, học viên là những người đang học tập, nghiên cứu tại 11 trường đại học và 5 trường cao đẳng với thời gian 12 tháng trở lên, nhằm mục đích điều chỉnh, bổ sung các biến đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Thứ ba, tham vấn lấy ý kiến của một số cán bộ quản lý, giảng viên có nhiều năm trực tiếp giảng dạy các hệ đào tạo khác nhau tại các trường ĐH-CĐ về các vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo nhằm mục đích điều chỉnh các biến đo lường chất lượng đào tạo. Thứ tư, việc phỏng vấn, thảo luận với các thành phần trên được thực hiện bằng cách xây dựng bảng câu hỏi tập trung vào vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Thứ năm, đối với kết quả thì sau khi tiến hành phỏng vấn, thảo luận, hầu hết những người tham gia đều đồng ý với việc xác định các nhân tố ảnh hưởng với mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh, đồng thời cũng đồng tình đối với các biến quan sát để đo lường chất lượng đào tạo. Với nghiên cứu định tính, thang đo, mô hình nghiên cứu đã được hiệu chỉnh và bảng câu hỏi đã được chuẩn bị cho nghiên cứu định lượng.

  • Nghiên cứu định lượng:

Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu thông qua điều tra, khảo sát bằng câu hỏi kèm theo thang đo. Hoạt động dạy và học là yếu tố quyết định hàng đầu đến chất lượng đào tạo. Do đó, trong giới hạn chủ đề nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra, khảo sát người học nhằm xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng đào tạo, để từ đó có thể mở rộng đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo.

Mẫu nghiên cứu gồm có 2.095 quan sát hợp lệ được thu thập từ 2.200 phiếu phát ra. Tác giả lấy mẫu thuận tiện, tuy nhiên mẫu vẫn đảm bảo tính ngẫu nhiên và tính đại diện theo từng loại hình trường như: phân ra các trường công lập, các trường ngoài công lập, các trường nước ngoài.

3. Mô hình nghiên cứu

Để lập mô hình nghiên cứu của mình, tác giả thực hiện tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề tác giả nghiên cứu. Trong đó nổi bật có nghiên cứu và mô hình của Cheng & Tam (1997); Kwek và các cộng sự (2010). Từ đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và khảo sát thông qua bảng câu hỏi thu thập ý kiến từ các sinh viên, học viên đang học tập tại 11 trường đại học và 5 trường ĐH-CĐ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các thông tin, số liệu thu thập được sẽ sử dụng phần mềm thống kê SPSS để phân tích các yếu tố thống kê cơ bản và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Cụ thể, mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7 + β8X8 + ε

Trong đó:

Y: Chất lượng đào tạo, β0: Hằng số hồi quy, X1: Chương trình đào tạo, X2: Cơ sở vật chất, X3: Đội ngũ giáo viên, X4: Môi trường học tập, X5: Dịch vụ hỗ trợ, X6: Năng lực người học, X7: Tổ chức quản lý đào tạo, X8: Các đánh giá kết quả học tập, ε: sai số, phần bỏ qua những nhân tố khác có tác động đến chất lượng đào tạo.

Nghiên cứu mong muốn nhận giá trị β dương tức là có sự ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.

Xem thêm:   Contains Là Gì Ạ? Nghĩa Của Từ Contain, Từ Contain Là Gì

4. Kết quả nghiên cứu

Sau khi phân tích thống kê mô tả, tác giả thực hiện phương pháp làm sạch dữ liệu bằng phương pháp phân tích Cronbach Alpha cho tất cả các biến độc lập và biến phụ thuộc. Kết quả cho thấy, các biến có Cronbach Alpha nhỏ hơn 0.6 không đạt yêu cầu gồm: CSVC 01,02,03,05; DNGV 01,03; MTHT 02,04,05; KQHTSV 02,03; CLDVHT 03. Từ đây tác giả thực hiện phân tích hệ số KMO trước khi đi vào bước tiếp theo là phân tích nhân tố EFA.

Hệ số KMO (Kaiser- Meyer- Olkin) là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số của KMO lớn (giữa 0.5 và 1) có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu như trị số này nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các dữ liệu (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

Kết quả phân tích hệ số KMO = 0.962, cho ta thấy, các biến đưa vào phân tích nhân tố là thích hợp. Giải thích các nhân tố được thực hiện trên cơ sở nhận ra các biến quan sát có hệ số truyền tải (factor loading) lớn ở cùng một nhân tố. Các nhân tố này có thể giải thích bằng các biến có hệ số lớn đối với bản thân nó. Trong ma trận nhân tố sau khi chạy kết quả, ta có 5 nhân tố tập hợp các biến quan sát từ các thành phần, trong đó các biến quan sát như CSVC 01,02,03,05; DNGV 01,03; MTHT 02,04,05; KQHTSV 02,03; CLDVHT 03: có hệ số truyền tải thấp nên bị loại khỏi mô hình.

Từ 8 nhân tố ở mô hình ban đầu, sau khi chạy ma trận đã xoay trong kết quả EFA ta nhóm và đặt tên 5 nhân tố của mô hình hiệu chỉnh như sau: X1: Đội ngũ giảng viên; X2: Kết quả học tập sinh viên; X3: Đánh giá người học; X4: Tổ chức và Quản lý đào tạo; X5: Chương trình đào tạo.

  • Các giả thuyết của mô hình

Từ mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh, tác giả xây dựng 5 giả thuyết nghiên cứu gồm: H1: Nếu Đội ngũ giảng viên giỏi thì chất lượng đào tạo tốt; H2: Nếu Kết quả học tập sinh viên tốt thì chất lượng đào tạo tốt; H3: Nếu Năng lực người học tốt thì chất lượng đào tạo tốt; H4: Nếu Tổ chức và Quản lý đào tạo tốt thì chất lượng đào tạo tốt; H5: Nếu Chương trình đào tạo tốt thì chất lượng đào tạo tốt.

  • Phân tích hồi quy

Ta có phương trình hồi quy như sau:

Chất lượng đào tạo = 0.326 * Doi ngu giang vien + 0.447 * Ket qua hoc tap cua sinh vien + 0.278 * Nang luc nguoi hoc + 0.249 * To chuc va Quan ly dao tao + 0.314 * Chuong trinh dao tao + ε

5. Kết luận và kiến nghị

  • Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho chúng ta thấy chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một là, trường nào có cơ sở vật chất tốt thì trường đó có chất lượng đào tạo tốt hơn. Hai là, cách tổ chức và quản lý đào tạo mà tốt thì chất lượng sẽ được cải thiện rõ rệt. Ba là, đội ngũ giảng viên cũng rất quan trọng đối với người học. Đội ngũ giảng viên càng giỏi về chuyên môn và có trách nhiệm thì chất lượng đào tạo sẽ tốt hơn. Bốn là, môi trường học tập cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Môi trường học tập tốt, chất lượng đào tạo càng cao. Năm là, cách đánh giá kết quả học tập đúng đắn, khoa học và công bằng sẽ làm giúp gia tăng chất lượng đào tạo, bởi lẽ sẽ khuyến khích sinh viên học tập chăm chỉ hơn. Cuối cùng là, chương trình đào tạo, chất lượng dịch vụ hỗ trợ và năng lực người học cũng có tác động đến chất lượng đào tạo.

  • Kiến nghị
Xem thêm:   Meet up nghĩa là gì

Từ nghiên cứu này tác giả đề xuất các giải pháp như sau:

Một là, các trường cần thiết kế các phòng học hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Các trường nên để các phòng học lớn để cho giảng viên lên lớp giảng, đồng thời cần có các phòng nhỏ để cho các trợ giảng lên sửa bài tập cho sinh viên. Các phòng học này cần phải trang bị máy lạnh, âm thanh và ánh sáng tốt, projector,… Đồng thời, cần trang bị thư viện điện tử và có khả năng kết nối với các thư viện tại Việt Nam và nước ngoài.

Hai là, lớp học không nên tổ chức quá đông như hiện nay, quy mô nên khoảng từ 20 đến 40 sinh viên, đồng thời cần kết hợp chặt chẽ giữa đội ngũ giảng viên giỏi và các trợ giảng có năng lực.

Ba là, nên tổ chức đánh giá sinh viên khoa học hơn. Cụ thể, các trường cần có ít nhất hai kỳ thi chính thức cho một môn học. Mỗi một kỳ thi ít nhất phải từ 120 phút trở lên, đặc biệt là thi cuối kỳ. Cần kết hợp chặt chẽ giữa hình thức thi trắc nghiệm và tự luận, không nên lạm dụng hình thức thi trắc nghiệm.

Bốn là, cần đưa ra chính sách tiền lương phân biệt hợp lý để thu hút những giảng viên giỏi về làm việc cho trường.

Cuối cùng là, cần tạo ra môi trường đa văn hóa trong đội ngũ quản lý và giảng viên, liên kết trao đổi các giảng viên và sinh viên để học hỏi và cập nhật các kiến thức mới và tiên tiến từ các nền văn hóa và giáo dục khác nhau trên thế giới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Trịnh Xuân Hưng, Trần Nam Trung (2018). Phương pháp giảng dạy các môn học thực hành ngành kế toán nhằm đạt được hiệu quả cao nhất tại Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường.
  2. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức.
  3. Trịnh Xuân Hưng, Trần Nam Trung (2018). Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập các môn thực hành tại Hutech. Tạp chí Tài chính, Kỳ 1 tháng 9/ 2018, trang 107.
  4. Đang, N. T. (2011). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Nghề Đông Nam Bộ. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc tế Hồng Bàng.
  5. Thành, T. (2011). Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật miền Nam. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc tế Hồng Bàng.
  6. Nguyên, Nghĩa, Trung (2012). Factors affecting the quality of training in Ho Chi Minh universities and colleges. Journal of Education Management,.
  7. Cheng, Y. C. and W. M. Tam (1997). Multi-Models of Quality in Education. Assurance in Education, 5, 22-31.
  8. Cheng, Y. C. (2003). Quality Assurance in Education: Internal, interface, and future. Quality Assurance in Education, 11 (4), pp.202 – 213.
  9. Kwek, C. L., T. C. Lau and H. P. Tan (2010). Education Quality Process Model and Its Influence on Students Perceived Service Quality. International Journal of Business and Management, 5, No.8.

IMPROVING THE TRAINING QUALITY OF COLLEGES

AND UNIVERSITIES LOCATED IN HO CHI MINH CITY

Ph.D student, Master. TRAN NAM TRUNG

Ho Chi Minh City University of Technology (Hutech)

ABSTRACT:

This article studies factors affecting the training quality of universities and colleges located in Ho Chi Minh City. This article identifies that facilities, training programs, qualification of lecturers, learning environments, support services, learner competencies, training programs management and learning assessment are factors mainly affecting the training quality of colleges and universities. This article was conducted by using the SPSS Statistics.

Keywords: Improvement, quality, training, colleges and universities, Ho Chi Minh City.

Các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo kỹ năng mềm tại Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.