5 bài văn Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, văn mẫu lớp 11

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => 5 bài văn Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, văn mẫu lớp 11 phải ko? Nếu đúng tương tự thì mời bạn …

phan tich tac pham chi pheo cua nam cao

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => 5 bài văn Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, văn mẫu lớp 11 phải ko? Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các tài liệu về giáo dục, học tập khác tại đây => Giáo dục, học tập

Chí Phèo là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Nam Cao lúc viết về chủ đề người nông dân. Bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Chí Phèo dưới đây sẽ giúp các em thấy được bức tranh đen tối của xã hội và sự cùng cực, khốn khổ của người nông dân xưa dưới sự áp bức của giai cấp thống trị qua cuộc đời và số phận của nhân vật Chí Phèo.

Đề bài: Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

phan tich tac pham chi pheo cua nam cao

5 bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao hay, rực rỡ

1.  Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, mẫu 1:

“Chí Phèo” của Nam Cao là tuyệt tác của văn học hiện thực phản ảnh đậm nét xã hội phong kiến đầy rẫy những tội ác và bất công, đồng thời khắc họa thành công hình ảnh người nông dân bị bần hàn hóa. Đọc những trang viết của Nam Cao, người đọc có thể mường tượng ra được bức tranh xã hội phong kiến nhiều ám ảnh.

Xuyên suốt tác phẩm là hình ảnh nhân vật Chí Phèo – một người nông dân lương thiện nhưng bị xã hội chèn lấn, giày đạp, đẩy tới bước đường cùng thành kẻ sát nhân. Nam Cao đã để cho nhân vật Chí Phèo xuất hiện ngay đầu tác phẩm bằng “tiếng chửi”. Một loạt tiếng chửi của Chí Phèo như mở màn một cuộc đời nhiều tối tăm của hắn “Hắn chửi trời, hắn chửi đất, hắn chửi cả làng Vũ Đại. Hắn chửi đứa nào đẻ ra hắn…”.

Chí Phèo sinh ra tại một cái lò gạch cũ, được người làng truyền tay nhau nuôi, tới lúc hắn đi ở cho Bá Kiến. Bá Kiến vì ghen tuông tuông nhưng đã đẩy Chí Phèo vào tù, nơi đó mở đầu tạo nên những oán hờn và cả nỗi đau. Chí Phèo đã dần đánh mất đi bản thân, đánh mất đi sự lương thiện. Sau mấy năm ở tù, CHí Phèo về làng, trở thành một con người khác. Nam Cao đã khắc họa rõ từng đường nét trên khuôn mặt của Chí Phèo, như phản ảnh sự đau lòng của cơ chế và sự tha hóa của một đời người. Chí Phèo xuất hiện “Cái đầu thì trọc lóc, răng cạo trắng hớn, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Hình ảnh người nông dân hiền lành đã mất tích sau những năm tháng ở tù.

Xã hội đã cướp đi tư cách, bản tính lương thiện và cả ước muốn làm người của Chí Phèo. Hắn trở về từ nhà tù, trở thành một kẻ chuyên đi rạch mắt ăn vạ, hắn phá tan đi bao nhiêu gia đình ở làng Vũ Đại. Cả làng người nào cũng sợ hắn, vì khuôn mặt gớm giếc và hành động tàn bạo.

phan tich truyen chi pheo

Bài văn Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao hay nhất

Cuộc sống của một con người thay đổi hoàn toàn, hắn lấy nghề rạch mặt, đâm thuê chém mướn làm nghề sống. Chí Phèo bị người làng xa lánh, hắn trở về làm cho nhà Bá Kiến. Lại một lần nữa người đọc thấy được sự thất vọng, bước đường cùng của Chí Phèo. Hắn lại trở về nơi ngày xưa đã đẩy hắn vào cảnh cùng cực như hiện giờ. Có nhẽ đây chính là sự thất vọng của người dân thấp cổ nhỏ họng trong xã hội phong kiến.

Nam Cao đã rất thành công lúc xây dựng thành người lao động vật CHí Phèo. Đây là hình tượng tiêu biểu cho sự tha hóa trong xã hội phong kiến, là sự thất vọng, cùng đường lạc lối.

Nhưng Nam Cao đã ko để cuộc đời Chí Phèo ngừng lại ở đó, tác giả đã khơi gợi sự khát thèm mến thương, khát thèm cuộc sống như một con người nơi hắn. Tình huống truyện Chí Phèo gặp Thị Nở ở vườn chuối sau lần hắn uống rượu say khướt. Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành đã khiến người đọc vẫn cảm thấy còn chút gì đó hi vọng cho một cuộc đời bình dị. Thị Nở xấu xí, thô kệch, nhưng lại là vết sáng trong cuộc đời tối tăm của CHí Phèo. Sự xuất hiện của Chí Phèo thực sự có ý nghĩa rất lớn đối với Chí Phèo, đánh thức lương tri, đánh thức bản tính lương thiện của hắn. “Bát cháo hành” là một cụ thể nghệ thuật giàu trị giá nhân văn, cho tình người còn nhấp nhánh giữa xã hội thối nát.

Sau lúc gặp mặt với Thị Nở, hắn thấy cuộc đời ngoài kia thật tốt đẹp, nghe thấy những người nữ giới đi chợ đang nói chuyện. Hơn hết có một cụ thể, một suy nghĩ khiến người đọc chùng xuống “Hắn thấy già yếu, bệnh tật, và cô độc còn đáng sợ hơn cả đau ốm bệnh tật…hắn khát khao làm hòa với mọi người”. Có nhẽ đã tới lúc hắn trông thấy cần một cuộc sống như mọi người, ko phải rạch mặt ăn vạ nữa. Cuộc sống bình dị đó nhưng với Chí lại quá xa vời.

Xã hội phong kiến nghiệt ngã, ko để cho Chí Phèo được làm người lương thiện lúc bà cô của Thị Nở xuất hiện. Bà cô phản đối chuyện Thị Nở và Chí Phèo, còn dùng những từ cay độc để quở mắng Chí Phèo. Bà cô là hiện thân của xã hội phong kiến, cự tuyệt khát khao làm người, quyết dồn Chí vào bước đường cùng. Chính điều này đã làm cho Hắn đau, rơi vào vô vọng và quyết tìm tới nhà Bá Kiến để làm thịt Bá Kiến.

Hình ảnh ám ảnh người đọc là hình ảnh Chí Phèo giãy đành đạch, nằm giữa vũng máu ở sân nhà Bá Kiến. Hắn làm thịt Bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình. Trước lúc chết Chí phèo còn hét lên “Người nào cho tao làm người lương thiện”, xã hội này ko cho, con người cũng ko cho. Đúng là một thảm kịch quá đau lòng đối với người nông dân trong xã hội đầy rẫy bất công.

Nam Cao với ngòi bút thâm thúy đã xây dựng nhân vật tiêu biểu trong xã hội diển hình như kéo người đọc về với thời kỳ đau thương của quốc gia ta hồi đó. Nghệ thuật đặc tả tính cách, hành động đã làm cho truyện ngắn thêm sinh động, thu hút.

——————– HẾT BÀI 1 ——————–

Sau lúc đã tìm hiểu bài văn mẫu phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao các em có thể đi vào Nêu nhận xét về thảm kịch cái chết của Chí Phèo hoặc tham khảo Chí Phèo bị tước đoạt nhân tính như thế nào? để ôn tập, củng cố tri thức và rèn luyện kỹ năng viết của mình.

2. Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, mẫu 2:

“Chí Phèo” chỉ là một truyện ngắn và là một truyện ngắn sáng tác trong những ngày đầu mới cầm bút của Nam Cao viết về đề tài nông dân, nhưng tác phẩm chính là sự tổng hợp, kết tinh đỉnh cao của ngòi bút nhà văn. Có thể nói rằng, “Chí Phèo” là một bản án cáo trạng gang thép đối với một xã hội phong kiến đầy bất công đã đẩy người nông dân vào trục đường bần hàn hóa trước Cách mệnh. Đồng thời, tác phẩm cũng là một câu chuyện chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân văn thâm thúy.

Trước hết, tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đã khắc họa tấn thảm kịch của người nông dân trước Cách mệnh. Trong tác phẩm này, Nam Cao ko đi vào nạn sưu thuế hay thiên tai dịch họa nhưng nhà văn lại hướng tới một phương diện khác, đó là hình tượng người nông dân cố cùng bị xã hội phá hủy về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính và bị phủ nhận tư cách làm người. Nỗi thống khổ gớm ghê của Chí Phèo chính là bị cướp đi hình hài của một con người, bị đẩy ra khỏi xã hội nhân loại và phải sống kiếp sống đớn đau như thú vật. Chí từ một anh canh điền lương thiện khỏe mạnh, vì phục dịch bà Ba, khiến cụ Bá ghen tuông ghét đẩy vào ngục tù. Từ đây, trục đường tha hóa của người nông dân chất phác mở đầu như trượt dốc ko phanh. Ra khỏi tù, người ta ko trông thấy thằng Chí Phèo trước đây nữa nhưng thay vào đó là một hình hài quỷ dữ: “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen nhưng rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm […]. Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!”

Với ngòi bút hiện thực, nhà văn Nam Cao đã chỉ ra rằng, để tồn tại thì những người nông dân hiền lành khốn khổ đã dần trở thành lưu manh hóa và bất cần. Họ ko chỉ bị tha hóa về nhân hình nhưng còn bị tha hóa cả về nhân tính.

Ở tù về, Chí như trở thành một con quỷ dữ, chuyên rạch mặt ăn vạ, la làng ồn ào. Trở thành tay sai đòi nợ cho Bá Kiến: “Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện”. Ko những thế, những hành động man di đó hắn đều làm trong lúc say: “ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, […] đập đầu, rạch mặt, làm thịt người trong lúc say”. “Những cơn say của hắn tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang” làm cho hắn chưa boa giờ tỉnh táo quan tâm thức về những việc mình đã và đang làm.

Chính vì trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” nhưng tất cả mọi người đều cố tránh xa hắn, ngay cả lúc hắn “kêu làng, ko bao giờ người ta vội tới” bởi đã quá quen với cảnh hắn la làng ăn vạ. Ko người nào thèm chửi nhau với hắn, ko người nào xác nhận hắn, ngay cả Thị Nở – người phụ nữ “xấu ma chê quỷ hờn” cũng ko cần hắn. Lúc đó, hắn mới tỉnh ngộ trông thấy thảm kịch thê lương của mình: thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Hắn kêu lên: “Người nào cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao ko thể là người lương thiện nữa”. Đó là những câu hỏi đầy đắng cay và ko có lời trả lời. Lương thiện của con người là ở trong chính mỗi người chúng ta. Vậy nhưng Chí lại phải đi “đòi” lương thiện. Chính cái xã hội vô nhân tính đã cướp mất lương thiện và còn khốn nạn hơn, ngay cả cái quyền được làm một con người tử tế cũng bị xã hội đó tước đoạt mất.

Qua tấn thảm kịch của Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã cho người đọc thấy một hiện thực xót xa về cuộc sống và số phận của người nông dân trước Cách mệnh. Đó chính là cuộc sống thất vọng và bần hàn, người nông dân từ tha hóa đã dẫn tới lưu manh hóa. Phản ánh thảm kịch đó, nhà văn Nam Cao cũng chỉ rõ nguyên nhân là mẫu thuẫn xã hội thâm thúy đã đẩy người nông dân tới bước đường cùng.

Trong tác phẩm, một bên, nhà văn xây dựng hình tượng giai cấp phong kiến thống trị mẫu thuẫn với một bên là người nông dân lương thiện nghèo khó. Hình tượng tiêu biểu cho giai cấp phong kiến thống trị ở nông thôn chính là nhân vật Bá Kiến. Chân dung lão cường hào cáo già Bá Kiến dần dần hiện rõ trong tác phẩm những nét tính cách được trình bày hết sức sinh động, đầy ấn tượng. Đó là cái lối quát “rất sang”, lối nói ngọt nhạt và nhất là “cái cười Tào Tháo”. Chính sách thống trị của hắn rất khôn ngoan, rảo hoạt: “mềm nắn, rắn buông”, “bám thằng có tóc, người nào bám thằng trọc đầu”, “chỉ bóp tới nửa chừng” và “hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi lại vớt nó lên để nó đền ơn”, dùng thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò, bởi “Lúc cần tới chỉ cho nó dăm hào uống rượu là có thể sai nó tới tác oai tác quái bất kỳ anh nào ko nghe mình”… Tất cả đã cho thấy tâm địa thâm độc tới ghê sợ của Bá Kiến, lợi dụng cái ác để trục lợi cho mình và dùng cái ác để làm nên cái ác lớn hơn.

Trong lúc giai cấp thống trị lọc lõi khôn đời thì người nông dân thấp cổ nhỏ họng lại lâm vào đường cùng, trở thành nạn nhân bị bóc lột và bị đẩy vào trục đường tha hóa tới tội nghiệp.

Bị đẩy vào tù một cách oan ức, ra tù, Chí muốn tìm tới nhà Bá Kiến để tính sổ. Vậy nhưng từ chỗ hung hăng đòi “liều chết với bố con” lão Bá Kiến, chỉ sau mấy câu ngọt nhạt và mấy hào lẻ của cụ Bá, Chí Phèo đã trở thành một tên tay sai mới của lão. Xây dựng nên hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã cho người đọc thấy được số phận, tình cảnh của người nông dân trước Cách mệnh bị xã hội phong kiến đầy bất công đẩy vào trục đường tha hóa, bị tước hết trị giá và tư cách của một con người. Tranh chấp giữa người nông dân và giai cấp địa chủ đó được đẩy lên cao trào trong khi Chí đã trông thấy người đã đẩy mình tới cảnh tha hóa chính là Bá Kiến và người cần làm thịt cũng chính là lão ta.

Tuy Chí Phèo đã thức tỉnh được tình cảnh tha hóa của mình và nhận diện được quân địch của mình nhưng lúc đó đã là quá muộn. Đây cũng chính là một thảm kịch đớn đau của người nông dân và của một con người. “Chí Phèo” là một bản cáo trạng gang thép đối với xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người ta và trục đường tha hóa cùng cực nhất. Tuy vậy, nhưng tác phẩm cũng là một minh chứng về tình mến thương và sự thực tỉnh lương tri của con người.

Tình cờ gặp Thị Nở trong một đêm say đã khiến Chí trở thành một con người khác. Sáng hôm sau tỉnh dậy, Chí cảm thấy bao nhiêu điều mới mẻ: thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng huyên náo của những ngwoif nữ giới đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Hắn thấy lòng “bâng khuâng”, “mơ hồ buồn” và lần trước nhất cảm thấy sợ tuổi già, đói rết, ốm đau và cô độc. Được Thị Nở chăm sóc, thương yêu, hắn bỗng nhớ lại ước mơ về một mái ấm gia đình “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải” thời trẻ trai. Có thể thấy rằng, dù Thị Nở là người nữ giới dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn nhưng lại là người ko hề chê bai Chí, là người săn sóc, quan tâm tới anh ta một cách dịu dàng và quan tâm nhất. Chính tình yêu đó làm cho “Xấu nhưng nhát gan thì cũng đáng yêu”, làm cho con quỷ dữ bao năm đã mất tích, thay vào đó là một con người khát khao lương thiện, khát khao làm người chân chính.

“Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” như một lời cầu hôn của Chí với Thị Nở. Bộc bạch mong muốn đó một cách rất chân thực, giản dị nhưng chất phác đúng kiểu một anh nông dân, Chí mong muốn được làm lại từ đầu, được sống một cuộc đời khác, cuộc đời bình dị giống như bao người nhưng Thị Nở chính là cầu nối, là người vun trồng cùng hắn xây dựng. Phải nói rằng, tác giả đã khéo lựa chọn những cụ thể đắt giá để qua đó trình bày ý nghĩa của sự hồi sinh và khẳng định sức sống của thiên lương, lương thiện trong mỗi con người. Phát hiện và mô tả tài tình sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo chính là một thành công nghệ thuật rực rỡ của Nam Cao.

Thế nhưng, điều đáng nói là con người đã biết hoàn lương nhưng xã hội đó lại ko thể nào chấp nhận lại họ được nữa. Chí Phèo vừa mới ước mơ về một gia đình thì đã bị bà cô Thị Nở tạt ngay cho một gáo nước lạnh. Chí hiểu rằng, mình có nỗ lực làm sao đi nữa thì cũng ko thể xóa hết những tội tình nhưng mình gây ra, ko thể nào nhưng trở về hòa nhập với cuộc sống được nữa. Ý thức được điều này, cũng là ý thức được kẻ gây ra thảm kịch cho mình, Chí đã tìm tới nhà Bá Kiến kết liễu lão ta và cả chính mình. Điều này là thế tất bởi lẽ, cánh cửa hoàn lương của Chí đã đóng sầm trước mắt. Để khắc phục sự thất vọng đó, Chí chỉ còn cách là kết thúc cuộc đời mình và kẻ gây nên tội ác. Cái chết đó là cái chết của một thảm kịch đớn đau trước ngưỡng cửa trở về làm người, là tiếng kêu cứu về quyền làm người.

Với tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao ko chỉ phơi bày khuôn mặt xã hội đen tối, bất công nhưng nhà văn còn đồng cảm với những thảm kịch khổ đau của người nông dân thấp cổ nhỏ họng trước Cách mệnh. Đồng thời nhà văn cũng kịp thời phát hiện và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của con người và khát khao thay đổi thực tại để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

3. Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, mẫu 3:

Chí Phèo là câu chuyện về đoạn cuối cuộc đời của một con người trong xã hội thực dân phong kiến diễn ra và được ghi lại bởi Nam Cao (1917 – 1951), mội ngòi bút bậc thầy cách nay đã hơn sáu mươi năm.

Mở đầu tác phẩm Chí Phèo xuất hiện trong tư thế khật khưỡng của kẻ say rượu vừa đi vừa chửi. Hắn chửi vung tất cả. Chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi những đứa khổng chửi nhau với hắn. Đây chính là lí do để ngay phần tiếp theo, tác giả kể vể lai lịch của Chí. Hắn vốn là đứa trẻ từ lúc mới đẻ ra đã bị bỏ rơi trong cái lò gạch bò hoang, được người làng nhặt về nuôi, đi ở cho nhiều nhà không giống nhau, cuối cùng tới năm 20 tuổi thì về làm canh điền cho Lí Kiến. Có thể vì ghen tuông tuông, nghi cho bà ba vốn tính lẳng lơ có tư tình với anh canh điền khoẻ mạnh, Bí Kiến cho người bắt Chí giải lên huyện và đẩy vào ngục tù.

Ngay sau lúc ở tù về, Chí đã uống rượu say khướt rồi cầm vỏ chai tới cổng nhà Bá Kiến (lúc này Bá Kiến đã là Bá bộ) chửi Lí Cường đàn ông Bá Kiến xông ra hành hung Chí, được thể Chí đã dùng mảnh chai rạch mặt ăn vạ. Đang thế, Bá Kiến xuất hiện, lên giọng mắng Lí Cường rồi dùng lời ngon ngọt để xoa dịu Chí, lại mời Chí vào nhà tiếp đãi cơm rượu hậu hĩnh, cho Chí một đổng bạc đem về Chí vô cùng hể hả. Từ đó, lúc nào hết tiền hắn ,lại tới ăn vòi. Lần thứ hai, Chí tới nhà Bá Kiến xin đi ờ tù lần nữa với cách lập luận đi tù còn có cơm ăn, ở làng mảnh đất cắm rùi cũng ko có nhưng cái ăn cũng ko, Bá Kiến lợi dùng thời cơ này nhờ hắn đi đòi nợ Đội Tảo 50 đồng và hứa sẽ, có vườn cho Chí. Sau lúc Chí hoàn thành việc được giao, Bá Kiến cho vài hào uống rượu và cắt cho hắn 5 sào vườn ở bãi sông. Lúc này Chí mới 27, 28 tuổi. Cũng bắt đẳu từ đây, Chí trờ thành kẻ đâm thuê chém mướn, một phương tiện đắc lực của Bá Kiến nhằm ức hiếp dân lành và trả tiền những kẻ có máu mặt trong làng nhưng ko cùng vây cánh. Chí Phèo đã thực sự trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, người nào người nào cũng đều sợ hắn và tránh mặt hắn.

phan tich chi pheo ngan gon

Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao để thấy được thảm kịch của người nông dân xưa

Một lần trong buổi tối sáng trăng, sau lúc được uống rượu với Tự Lãng, hắn trở về túp lều ven sông định bước xuống tắm, tình cờ nhìn thấy Thị Nở đang nằm ngủ. Thị là người nghèo rót mùng tơi, xấu ma chê quỷ hờn lại ngơ ngẩn như người đẩn trong cổ tích. Họ đã ăn nằm với nhau và đánh thức tình cảm tầm thường cùng mong muốn làm một người tầm thường trong Chí. Nhờ thứ tình cảm này nhưng bao nhiêu ước mơ hiền lành thời trẻ trai bỗng thức đậy, hắn muớn có một tổ ấm gia đình bình dị. Rôi Chí bị cảm. Thị Nở đã quan tâm chăm sóc, nấu cháo hành cho hắn ăn giải cảm… Tưởng được bền lâu, nào ngờ chỉ được vẻn vẹn năm ngày, tới ngày thứ sáu, bà cô thị Nở đi buôn chuyến trở về. Bà đã xỉ vả nhiếc mắng thị vì đã biết được chuyện giữa Thị với Chí Phèo. Do đấy, Thị Nở tới mằng Chí Phèo và bỏ mặc Chí trong vô vọng. Thế rồi Chí khóc, Chí lại tìm tới rượu, Lúc say hắn dắt dao vào lưng, nói là đi đâm chết “nó”, tức đâm chết hai cô cháu nhà Thị Nở. Nhưng bước chân khật khường của Chí cứ thế tới nhà Bá Kiến. Hắn xông vào Bá Kiến, vung dao đòi làm người lương thiện. Trong cơn tỉnh say cuối cùng này. Chí đã vung dao đâm chết Bá Kiến và cũng tự kết liễu cuộc đời mình.

Nghe tin hai cái chết, trong lúc bao người, báo kẻ hể hả, Thị Nở nghĩ tới Chí “sao có lúc nó hiền như đất và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn”. Thị lo mình có chửa. Khép lại câu chuyện là hình ảnh thị nhìn nhanh xuống bụng và “đột nhiên thị thấy cái lò gạch thoáng hiện, xa nhà cửa và vắng bóng người qua lại”

Đây là một truyện ngắn nhưng dung lượng hiên thực được phản ánh trong trạng thái dồn nén, chứa nhiều tranh chấp, với nhiều nhân vật, có nhiều lớp thời kì…, mang tầm vóc của một tiểu thuyết. Có thể phân tích theo vấn đề ý nghĩa nhân sinh của truyện, có thể phân tích theo tuyến nhân vật, hoặc cũng có phân tích từng mối quan hệ giữa nhân vật chính là Chí Phèo với làng Vũ Đại và một số nhân vật có quan hệ trực tiếp (Bá Kiến, thị Nở). Đâu đi theo trục đường nào cũng cần làm nổi trội rõ nghệ, thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật mô tả nhân vật và tiếng nói truyện. Sức mạnh của truyện ngắn trước hết là cụ thể. Cách phân tích dưới đây nỗ lực đi theo tình huống này.

Làng Vũ Đại, một hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước cách mệnh. Về kết cấu và tiếng nói truyện. Trước nhất phải kể tới kết cấu. Nếu xét về kết cấu hình tượng, truyện Chí Phèo cũng có một tình tiết có thể kể được nhưng điều đáng nói ở đây là kết cấu văn hán truyện. Nam Cao đã rất có ý thức thông minh và huy động kết cấu tham gia vào việc xây dựng nhân vật cũng như đắp bổi thêm bề dày, bề sâu các lớp nghĩa cho tác phẩm. Thứ nhất, Nam Cao sử dụng kết cấu vòng tròn. Đó là sự trở lại cụ thể “cái lò gạch bỏ trống” ở phần kết truyện hình ảnh cái lò gạch bỏ trống nơi Chí bị bỏ rơi lúc mới đẻ ở phần đầu truyện được nhà văn sử dụng để cho Thị Nở đột nhiên thấy thoáng xuất hiện lúc nhìn xuống bụng, sợ nhỡ may mình có chửa. Kết truyện nay có sức gợi rất lớn. Điểu này gì nếu ko phải là khả năng tái sinh của Chí Phèo? Chừng nào còn tồn tại cái xã hội kiểu làng Vũ Đại thì chừng đó sẽ còn nảy nòi ra loại người như Chí. Môi trường này cần được thay đổi. Nếu như đặt vấn để hãy cứu lấy tư cách con người thì rõ ràng phải tính từ lúc việc cứu lấy môi trường đă huỷ hoại tư cách. Thứ hai, các thành, phẩn lời tường thuật được xáo trộn, lắp ghép, đan xen ko luân theo trình tự tuyến tính của tình tiết. Nam Cao mở đầu bằng hình ảnh Chí khật khưỡng say và vừa đi vừa chửi; Chân dung nhân vật bước đầu xuất hiện với những đường nét thật ấn tượng, buộc người đọc chú ý và ham mê theo dõi ngay tức khắc.

Về yếu tố tiếng nói truyện có nhiều điều có thể bán được nhưng ở đây chỉ xin đơn cử một hình thức sử dụng ngổn ngữ hết sức thông minh và lạ mắt kiểu Nam Cao. Ông đã đan xen, trộn lẫn lời nhân vật và lời người kể truyện, nhiều đơn vị lời văn có thể là của nhân vật vừa là của người kể chuyện. Điều này có tác dụng rất lớn cho phép nhà văn soi quét, lách sâu vào thẻ giới nội tâm rất phức tạp và tinh tế của nhân vật. Nhờ vậy chân dung nhân vật xuất hiện hết sức chân thực và sống động. Chỉ cần đơn cử đoạn mở đầu truyện là đã thấy thủ pháp nghệ thuật sử dụng tiếng nói đan xen, hoà trộn như thế’ nào. Đây là một kĩ thuật của tiếng nói tiểu thuyết hiện đại nhưng ko phải nhà văn cùng thời nào với Nam Cao cũng đã biết và sử dụng. Hiểu tương tự mới thấy sự canh tân và đóng ghóp vào kĩ thuật tiểu thuyết của Nam Cao thực sự là ko nhỏ và có nhiều ý nghĩa cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

Tóm lại, chỉ với tác phẩm Chí Phèo đã dù thấy Nam Cao trong buổi mạt kỳ của chủ nghĩa hiện thực phê phán nước ta đã có công đưa nó lên một tầm cao mới về cả nội dung và nghệ thuật trước lúc nó im tiếng.

4. Phân tích truyện Chí Phèo của Nam Cao, mẫu 4:

Chỉ là một truyện ngắn, lại là truyện ngắn sáng tác sớm của Nam Cao về đề tài nông dân, nhưng Chí Phèo là sự tổng hợp, sự kết tinh của ngòi bút Nam Cat về đề tài này. Nếu như Nam Cao có thể được coi là “nhà văn của nông dân” , cùng với Ngô Tất Tố, thì trước hết vì ông có Chí Phèo.

Khác với truyện ngắn cùng đề tài của tác giả, Chí Phèo có phạm vi hiện thực được phản ánh trải ra cả bề rộng ko gian (một làng quê) và cả bề dài thời kì. Có thể nói, làng Vũ Đại trong truyện chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời.

Những năm 1940 – 1945, nông thôn vẫn là một đề tài lớn trong văn xuôi khu vực hợp pháp. Các nhà văn đã đi vào đề tài này theo chiều hướng không giống nhau. Trước hết là đi vào phong tục tập quán dân quê, sự lục sục giữa vợ cả và vợ lẽ, mẹ chồng và nàng dâu, mẹ ghẻ và con chồng, anh và em, chú bác, cô cậu và những đứa cháu bên nội, bên ngoại.

Trên bối cảnh chung của văn học hiện thực thời kì 1940 – 1945, Chí Phèo là một hiện tượng đột xuất. Giông như Tắt đèn, Bước đường cùng, Giông tố…. thời Mặt trận dân chủ, Chí Phèo cũng là “bức tranh xã hội rộng lớn với những xung đột giai cấp quyết liệt”. Tác phẩm gây ấn tượng đậm nét về tính đầy đặn, nhiều chủng loại nhiều màu sắc của bức tranh về đời sông xã hội nông thôn.

Song, dựng lên bức tranh xã hội ở nông thôn, Nam Cao trước hết tập trung nổi trội mối xung đột giai cấp đối kháng giữa bọn địa chủ cường hào thống trị và người nông dân bị áp bức bóc lột. Tức là, cũng như tác giả Tắt đèn, Bước cùng…. Nam Cao đã phản ánh hiện thực nông thôn trên phương diện tranh chấp giai cấp.

Chí Phèo của Nam Cao đã xây dựng một hình tượng tiêu biểu khá hoàn chỉnh về giai cấp phong kiến thống trị ở nông thôn: Bá Kiến.

Chân dung lão cường hào cáo già Bá Kiến dần dần hiện rõ trong tác phẩm những nét tính cách được trình bày hết sức sinh động, đầy ấn tượng. Đó là nói chung “rất sang” (“mở đầu bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh mọi người”), lối nói ngọt nhạt, và nhất là “cái cười Tào Tháo” (“cụ vẫn tự phụ hơn đời cái cười Tào Tháo đó”) – tất cả đều cho thấy thực chất gian hùng của lão cường hào “khôn róc đời” này. Nam Cao cũng hé cho thấy tư cách nhem nhuốc của “cụ tiên chỉ”: đó là thói ghen tuông tuông thảm hại của lão cường hào háo sắc nhưng sợ vợ – lão đắng cay trông thấy mình “già yếu quá ” nhưng “bà Tư” thì “cứ trẻ, cứ phây phây”, “nhìn thì thích nhưng nhưng tưng tức lạ… khác gì nhai miếng bò lựt sựt lúc rụng gần hết răng”. Đó là chuyện lão gỡ gạc tồi tệ đối với người vợ lính vắng chồng… Và bổ sung vào đó, để cho sự thối nát của nhà “cụ Bá” được hoàn chỉnh, còn có “Bà Tư” quỷ cái “thường gọi canh điền lên bóp chân nhưng lại “cứ bóp lên trên, trên nữa”… Nhà văn chỉ kể qua, nhẹ nhõm, – tuy ko kém thâm thúy, chứ ko sa đà trong việc soi mói đời tư thối tha của lão cường hào.

Ông tập ưung ngòi bút vào việc soi sáng thực chất xã hội của nhân vật, chủ yếu trình bày trong mối quan hệ với người nông dân bị áp bức. Đoạn độc thoại nội tâm rất mực sinh động của “cụ tiên chỉ làng Vũ Đại” về cái “nghề tổng lí”cho thấy Nam Cao không những soi thấu tim đen của nhân vật nhưng còn tỏ ra hiểu rất sâu các mối quan hệ xã hội ở nông thôn. Bá Kiến đã lặng lẽ nghiền ngẫm về nghề thống trị, rút ra từ bốn đời tổng lí những phương châm, thủ đoạn thống trị khôn ngoan: “mềm nắn, rắn buông”, “bám thằng có tóc, người nào bám thằng trọc đầu”, “thứ nhất sợ kẻ người hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân”, “chỉ bóp tới nửa chừng”, “hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn”… Còn đây là chính sách dùng người của lão: “ko có những thằng đầu bò thì lấy người nào trị những thằng đầu bò”, “thu dụng những thằng bạt tử ko sợ chết và ko sợ đi tù. Những thằng đó chính là những thằng được việc. Lúc cần tới chỉ cho nó dăm hào uống rượu là có thể sai nó tới tác oai tác quái bất kỳ anh nào ko nghe mình (…). có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp nhưng ăn…. “… Tất cả đều nhằm sao cho vừa bóp nặn được nhiều nhất, vừa giữ chắc cái ghế thống trị. Tâm địa thâm độc tới ghê sợ của Bá Kiến còn trình bày trong việc hắn nhẹ nhõm “khích” Chí Phèo đòi nợ đội Tảo, đẩy những kẻ sẵn sàng đâm chém đó vào chỗ chém nhau, để kẻ nào sống “cũng có lợi cụ cả”! Bá Kiến thật là một con hổ biết cười!.

Vạch khổ cho người nông dân bị áp bức bóc lột, Nam Cao ko đi vào nan sưu thuế, nạn cướp đoạt ruộng đất, nạn tô tức, quan tham lại những, thiên tai địch họa…. ở Chí Phèo và nhiều truyện nữa, nhà văn đi vào một phương khác: người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính, do đó, bị phủ nhận trị giá, tư cách làm người. Nỗi thống khổ gớm ghê của Chí Phèo ko phải ở chỗ tất cả cuộc đời người nông dân cố cùng này chỉ là một ko: ko nhà, ko cửa, ko cha ko mẹ, ko họ hàng thân thích ko tấc đất cắm dùi, cả đời ko hề biết tới một bàn tay chăm sóc của nữ giới nếu ko gặp Thị Nở…, nhưng chính là ở chỗ anh đã bị xã hội rạch nát cả khuôn mặt người, cướp đi vong linh người, để bị loại ra khỏi xã hội nhân loại, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật. Mở đầu truyện là hình ảnh hết sức sống động, lạ mắt của Chí Phèo khật khưỡng vừa đi vừa chửi. Nhưng đằng sau cái chân dung gã say rượu chửi lảm nhảm được vẽ bằng những nét bút tưởng đâu là kí họa gây cười đó, nếu đọc kĩ còn có thể thấy một cái gì như là sự vật vã của một vong linh đớn đau, vô vọng. Ko, tiếng chửi của Chí Phèo ko hẳn là bâng quơ. Hắn từ “chửi trời” tới “chửi đời” rồi “chửi ngay tất cả làng Vũ Đại…” .Và hắn bỗng tức tối lúc thấy “ko người nào lên tiếng cả”… Trong cơn say hắn vẫn cảm thấy tuy mơ hồ nhưng thấm thìa “nông nỗi” khôn khổ của thân phận. Đó là “nông nỗi” ko có người nào chịu chửi lại hắn! Có tức là tất cả mọi người đã dứt khoát ko coi hắn là người. Chửi lại hắn tức là còn thừa nhận hắn là người, là còn chấp thuận giao tiếp, hội thoại với hắn. Chí Phèo chửi cả làng với… hi vọng được người nào đó chửi lại. Những tín hiệu yêu cầu giao tiếp phát đi liên tục đó chỉ gặp sự yên lặng đáng sợ. Và vẫn còn lại một mình Chí Phèo trong sa mạc độc thân: Hắn cứ “chửi rồi lại nghe”, “chỉ có ba con chó dữ một thằng say rượu!…

Cảnh mở đầu đột ngột của thiên truyện đó không những đã giới thiệu thu hút tính cách lạ mắt của nhân vật nhưng còn hé thấy tình trạng bi đát của một số phận. Chí Phèo trước hết là một hiện tượng có tính quy luật, tính phổ quát, thành phầm của tình trạng áp bức bóc lột bất nhẫn ở nông thôn Việt Nam trước đây. Đây là hiện tượng những người nông dân lao động bị đè nén thái quá đã chống trả lại để tồn tại bằng trục đường lưu manh. Bá Kiến đẩy anh canh điền hiền lành vào tù; nhà tù thực dân – chỗ dựa tin tưởng của bọn phong kiến trong việc đàn áp nông dân – đã tiếp tay lão cường hào để làm thịt chết phần người trong con người Chí, biến Chí thành Chí Phèo, biến một người nông dân lương thiện thành một con quỷ dữ. Với ngòi bút hiện thực tỉnh táo ông vạch ra rằng, những người nông khốn khổ phải giành lấy sự tồn tại sinh vật bằng việc bán cả phẩm giá đó, đã trở thành lực lượng phá hoại mù quáng, dễ dàng bị bọn thống trị thâm độc lợi dụng, Vì thế nhưng Chí Phèo từ chỗ hung hăng tới nhà Bá Kiến, tuyên bố “liều chết với bố con” lão, chỉ cần mấy câu nói ngọt xớt, chuỗi cười Tào Tháo và mấy hào chỉ, đã trở thành tên tay sai mới của lão. Hiện tượng mỉa mai, đau xót rất phổ quát và có tính quy luật nhưng ngòi bút phân tích xã hội thâm thúy Nam Cao đã vạch ra.

Trị giá tiêu biểu, sức mạnh tố eáo to lớn của hình tượng Chí Phèo trước hết là ở chỗ làm nổi trội lên cái hiện tượng có tính quy luật vẫn hằng diễn ra ở xã hội nông thôn đầy bất công và tội ác đương thời đó. Vấn đề của Chí Phèo là vấn đề nông dân – với ý nghĩa đó, vẫn có thể nói Chí Phèo là một hình tượng tiêu biểu về nông dân.

Truyện lúc đầu được tác giả đặt tên là Cái lò gạch cũ; hình ảnh cái lò gạch cũ được xuất hiện ở phần mở đầu và cả lúc kết thúc truyện. Rõ ràng đó là ý nghệ thuật của Nam Cao. Cái lò gạch cũ như là một biểu tượng về sự hiện thế tất của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm.

Câu chuyện mối tình Chí Phèo – Thị Nở quả là thu hút đặc thù. Song mặc dù giọng văn bông lơn, có lúc như chế nhạo, mặc dù đối với một số người, đó là sự thu hút của loại truyện tình bờ hụi của hạng nữa người ngợm, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, “lứa đôi xứng đôi”, thì đây vẫn thật sự là truyện có một nội dung hết sức nghiêm túc, chứa đựng một tư tưởng nhân đạo thật mới mẻ, lạ mắt đem lại cho tác phẩm một tầm vóc bất thần.

Lúc đầu, Chí Phèo tới với Thị Nở một cách rất… Chí Phèo. Trong một đêm “rười rượi những trăng”, có những tầu chuối nằm ngửa ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rười rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy lên đành như là “hứng tình”, Chí Phèo rất say và cảm thấy “bứt rứt”, “ngứa ngáy” da thịt, đã xông tới người nữ giới khốn khổ “khờ dại đã nằm ềnh ệch nhưng ngủ ngay gần nhà hắn”. Lúc Thị Nở hốt hoảng kêu làng, thì “cái thằng trời đánh ko chết đó lại kêu to hơn, “vừa kêu vừa dằn người nữ giới xuống”! Trâng no, lì lợm tới thế là cùng! Nhưng điều kì diệu đã xảy ra là, nếu như lúc đầu, Thị Nở chỉ khơi dậy bản năng giống đực ở gã đàn ông Chí Phèo, thì sau đó, sự chăm sóc giản dị đầy ân tình và lòng mến thương mộc mạc nhưng tâm thành của nữ giới khốn khổ đó đã làm thức dậy thực chất lương thiện của người lao động trong Chí Phèo. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của vong linh Chí Phèo sau cuộc gặp mặt với Thị Nở, là một đoạn tuyệt bút, đầy chất thơ và tập trung trình bày tư tưởng nhân đạo thâm thúy bất thần cùa ngòi bút Nam Cao.

Sáng hôm đó, Chí Phèo tỉnh dậy muộn và lòng “bâng khuâng”, “mơ hồ buồn”. Lần trước nhất sau bao nhiêu năm, Chí Phèo mới lại nghe thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ nể chèo đuổi cá…Những âm thanh thân thuộc trong cuộc sống lao động xung quanh đó hôm nào chả có, nhưng hôm nay bỗng trở thành vang động sâu xa trong lòng Chí Phèo, trở thành những tiếng gọi tha thiết của cuộc sống vẳng tới bên tai lần trước nhất tỉnh táo của anh. Cuộc gặp mặt với Thị Nở đã lóe sáng như một tia chớp trong cuộc đời tối tăm dằng dặc của Chí Phèo. Dưới ánh sáng của tia chớp đó, Chí Phèo bỗng nhìn rõ tất cả cuộc đời mình: những ngày xưa “rất xa xôi ” đã từng “ước ao có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng! Khá giả thì sắm năm ba sào ruộng làm”. Cái hiện nay đáng buồn: “già nhưng vẫn cô độc”, cái tương lai còn đáng buồn hơn: “đói rét và ốm đau và cô độc cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Nếu như bao nhiêu năm nay, Chí Phèo “bao giờ cũng say”, “say tận”, “có nhẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ rằng có hắn ở đời”, thì hôm nay lần trước nhất Chí Phèo tỉnh táo, tỉnh táo để tự ý thức về thân phận. Trước đi Chí Phèo sống và hành động hoàn toàn vô thức, hắn ko thể biết và ko cần biết hắn là gì và đã làm những gì: “hắn ko biết rằng hắn là con quỷ .. của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng (…). Hắn biết đâu vì làm tất cả những việc đó trong lúc người hắn say… Giờ đây, lần trước nhất, Chí Phèo trông thấy sự hiện hữu của mình, đương đầu với chính mình, và đồng thời, cũng lần trước nhất, trông thấy sự thất vọng vô vọng của thân phận mình. Lúc thấy Thị Ni bưng cháo hành tới, hắn “rất ngạc nhiên” và hết sức xúc động uBởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người nữ giới cho”. Hắn ăn bát cháo từ tay Thị Nở và bỗng nhận thấy rằng cháo hành ăn rất ngon. Bởi vì hương vị cháo hành này chính là hương vị của tình mến thương tâm thành, của hạnh phúc giản dị, nhưng có thật, lần trước nhất tới với Chí Phèo. Lần trước nhất, Chí Phèo mắt “như ươn ướt”, “ôi sau nhưng hắn hiền, người nào dám bảo đó là thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt của mình”. Trở lại là anh canh điền trong trắng năm xưa cảm thây bị xúc phạm lúc bị cái bà ba “quỷ cái” gọi lên bóp chân, trở lại anh nông dân lương thiện từng ước mơ cuộc sống gia đình hạnh phúc hết sức bình dị khiêm nhượng trong lao động… “Đó là cái bản tính của hắn ngày thường bị lấp đi… “

Như vây là, lòng mến thương, cái tình người tâm thành đã làm sống lại trong Chí Phèo cái thực chất xinh xắn của người nông dân lao động, bao lâu nay bị cho lấp, vùi dập nhưng vẫn ko tắt. Bọn cường hào và nhà tù thực dân, nói rộng ra là cả cái xã hội tàn bạo đó, ra sức làm thịt chết cái “bản tính tốt” đó của anh “Trần truồng giữa bầy sói”, anh ko thể hiền lành, trong trắng, nhưng để tồn tại anh phải cướp giật, ăn vạ, đâm chém. Muốn thế phải liều và mạnh, những thứ đó Chí Phèo tìm ở rượu. Và Chí Phèo xoành xoạch say, ” hắn say thì hắn làm bất kỳ cái gì người ta sai hắn làm” – xét cho cùng, Chí Phèo ko chịu trách nhiệm về những hành động của mình: vong linh của anh đã bị cướp đi rồi.

Nhưng hôm nay, tình yêu đã thức tỉnh anh và vong linh anh đã trở về. Anh thấy “thèm lương thiện”, “muốn làm hòa với mọi người biết bao!”, Anh như rưng rưng và xẻn lẻn trong sự phục sinh của vong linh đó. Anh mong được nhận vào cái xã hội phẳng phiu, thân thiết của những người lương thiện”. Tình của Thị Nở không những đã thức tĩnh anh nhưng còn hé mở cho anh trục đường trở lại làm người, trở lại cuộc đời, và anh bồn chồn kỳ vọng.

Đã hơn một lần, Nam Cao viết về những mối tình của những kẻ bị cả xã hội miệt thị, lăng nhục độc ác: Lang Rận – mụ Lợi, Đức – Nhi, Chí Phèo – Thị Nở… Tuy vẫn giữ giọng văn khách quan, khôi hài, nhà văn đã dứt khoát đứng ra làm luật sư cãi trắng án cho những con người xấu số, bị mọi người hắt hủi đó, nhất là lúc họ bị ném vào tình thế nhục nhã, trở thành cái đích cho những mũi tên chế nhạo độc ác của người đời đầy thành kiến mu muội. Ông đã gang thép bênh quyền được yêu của họ và khẳng định tính chính đáng của những mối tình như thế. Có gì là ko chính đáng nếu như những con người trong lúc bị cả xã hội xua đuổi đó đã tới với nhau, tìm thấy ở nhau sự giao cảm, san sẻ nỗi lòng? Vì nếu tình yêu chân chính là tình yêu làm nhân đạo hóa con người, tăng lên sống, thì đã có mấy lần tình yêu có tác dụng nhân đạo hóa kì diệu, cảm động như mối tình Thị Nở – Chí Phèo? Chẳng phải tình mến thương tuy đơn giản, có phần thô lỗ của người nữ giới xấu xí đó đã gọi dậy vong linh người trong con quỷ dữ Chí Phèo, đưa hắn từ cõi địa ngục trở về cõi người đó sao? Chẳng phải một sự hóa giải thần bí nào nhưng chỉ là một tình yêu rất mực trần tục, nhưng là tình yêu thực sự con người, thật lành mạnh, khỏe khoắn. Mô típ nghệ thuật này được xử lí bằng một tư tưởng nhân đạo lớn lao và một bút lực phi thường, chỉ có Nam Cao.

Tư tưởng nhân đạo và hút lực phi thường đó còn trình bày ở đoạn văn mô tả tấn thảm kịch ý thức của Chí Phèo. Truyện ngắn đầy thu hút này càng về cuối càng đặc thù thu hút; ko phải chỉ vì tình tiết, tình tiết đầy tính kịch, biến hóa khôn lường, nhưng còn vì tầm tư tưởng ngày càng tăng lên một cách bất thần của tác phẩm.

Xem thêm:   KHGD DIA LY

Nhiều người cũng nói tới Chí Phèo như là một thảm kịch số phận, song nếu hiểu cho chặt chẽ, xác thực thì chỉ từ nhân vật này đã thức tỉnh vong linh, khát khao trở lại làm người nhưng bị cự tuyệt lạnh lùng, thì chỉ tới lúc đó, Chí Phèo mới thật sự rơi vào tình thế thảm kịch: thảm kịch của con người bị từ chối ko được làm người.

Lúc hiểu ra rằng xã hội ko xác nhận mình, Chí Phèo vật vã đớn đau. Hắn lại uống, nhưng điều lạ là, hôm nay “hắn càng uống càng tỉnh ra”. Đúng hơn là tuy say, trong tiềm thức Chí Phèo lúc này vẫn có một điềm tỉnh: nỗi đau khôn xiết về thân phận, và “hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Rồi như để chạy trốn bản thân, chạy trốn nổi đau, hắn “lại uống… lại uống… tới say mềm người”. Rồi hắn đi với một con dao và vừa đi vừa chửi… như mọi lần. Nhưng lại hoàn toàn khác mọi lần: hôm nay, Chí Phèo quằn quại đớn đau vì vô vọng, càng thấm thía hơn bao giờ tội ác của quân địch, đã tới thẳng trước Bá Kiến “trợn mắt, chỉ tay vào mặt” lão, dõng dạc đòi quyền làm người, đòi lại khuôn mặt người đã bị vằm nát của mình. Kẻ chết vì ý thức phẩm giá đã trở về, anh ko thể chấp nhận trở lại kiếp sông thú vật được nữa. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống, chết trong tâm trạng thảm kịch đớn đau. Thế là, trước đây, để bám lại sự sống, Chí Phèo phải từ bỏ phẩm giá, bán vong linh cho quỷ; giờ đây, ý thức phẩm giá thức dậy, vong linh trở về. Nhiều người nghi ngờ tâm lòng của Nam Cao đối với nông dân, vì thấy người nông dân của nhà văn phần nhiều xấu xa dữ tợn. Vậy nhưng chính ở những người khốn khổ có khuôn mặt và tính cách ko mấy “đáng yêu” đó, nhiều lúc ý thức phẩm giá còn mạnh hơn cả cái chết. Lão Hạc hình thức dường như lẫn cẫn, gàn dở nhưng lão đã lặng lẽ tìm tới cái chết để giữ trọn lòng tự trọng trong cảnh cùng đường (Lão Hạc). Lang Rận cũng tìm tới cái chết vì ko chịu nổi điều nhục nhã đang chờ ông ta hôm sau (Lang Rận) và ở đây là Chí Phèo?

Chí Phèo đã chết quằn quại trên vũng máu trong niềm đau thương vô hạn, khát khao lớn lao, thiêng liêng là được làm người lương thiện đã ko thực hiện được. Lời nói cuối cùng của Chí Phèo, vừa gang thép, chất chứa phẫn nộ vừa mang sắc thái triết học và âm điệu bi thống đầy ám ảnh, làm người đời sững sờ và day dứt ko thôi…”Người nào cho tao lương thiện?”. Làm thế nào để con người được sống cuộc sống con người? Đó là “một câu hỏi lớn ko lời đáp không những Bá Kiến ko thể hiểu nhưng xã hội lúc đó cũng chưa thể trả lời Câu hỏi đó được đặt ra một cách bức thiết, day dứt trong hầu như toàn thể sáng tác Nam Cao ưước cách mệnh. Và đặt ra bằng một tài năng lớn, lạ mắt, làm cho nhiều sáng tác của Nam Cao – trước hết là Chí Phèo – thuộc vào những trang hay nhất của nền văn xuôi Việt Nam.

5. Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, mẫu 5:

“Lúc Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trang sách của Nam Cao, người ta mới thấy đây là hiện thân đầy đủ nhất cho những gì gọi là cùng khổ của người nông dân trong một xã hội thuộc địa: bị dày đạp, cào xé, tàn phá từ nhân tính tới nhân hình.” (Nguyễn Đăng Mạnh). Người ta vẫn coi Chí Phèo như một hiện tượng lạ của văn học và đời sống, một thông minh đặc thù của Nam Cao nhưng qua đó, bao lớp hiện thực được lật dở, bao tầng tư tưởng được cày xới.

“Chí Phèo” thật sự đã đưa tên tuổi của Trần Hữu Tri chính thức trở thành Nam Cao. Vốn là một nhà văn hiện thực tới sau, bước vào làng văn trong khi mảnh đất về người nông dân đã được lật xới nhiều lần, Nam Cao vẫn cày được những đường cày thật đẹp và nâng tác phẩm của mình trở thành tuyệt tác. Tôi cho rằng “Chí Phèo” là tác phẩm Nam Cao viết hay và thâm thúy nhất về người nông dân bởi tính hiện thực và tư tưởng nhà văn gửi trong đó.

Đi theo cách nhà văn muốn dẫn dắt người đọc, Nam Cao đã đẩy Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời với trạng thái say và chửi – một trạng thái đầy ấn tượng và ám ảnh: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng vậy, cứ rượu xong là hắn chửi.” Hắn – cái cách nhưng Nam Cao gọi Chí Phèo – là một kẻ đang đằm mình trong men rượu và hội thoại với đời bằng tiếng chửi. Tiếng chửi có lớp có lang, có gần có xa, từ chửi trời, hắn chửi đời, rồi chửi sang cả dân làng Vũ Đại, chửi đứa nào ko chửi nhau với hắn, và sau cuối là chửi “đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn”. Tiếng chửi như đã trở thành quy luật sống của một kẻ say, Nam Cao đã cho ta thấy trạng thái tồn tại cụ thể nhất của nhân vật, thấy được chất lưu manh trong con người hắn, và phần nào thấy được thảm kịch bị cự tuyệt của Chí Phèo. Trong tiếng chửi dường như có sự cô độc. Dân làng Vũ Đại ko người nào ra điều, đáp lại hắn chỉ là tiếng sủa của ba con chó dữ. Chí Phèo bị gạch tên ra khỏi xã hội chăng? Vì đâu nhưng hắn bị cả xã hội ghê sợ và lảng tránh? Những câu hỏi gợi mở Nam Cao đặt ra từ đầu truyện đã cho ta lần bước tìm hiểu về nhân vật…

Chí Phèo vốn là một thanh niên hiền lành, lương thiện nhưng đã bị bọn cường hào ở làng Vũ Đại đẩy vào bước đường cùng. Là đứa con hoang bị bỏ rơi từ lúc mới sơ sinh, Chí được một bác phó cối ko con đem về nuôi. Bác phó cối chết, Chí tứ cố vô thân, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà khác. Ko cha ko mẹ, ko một tấc đất cắm dùi, Chí lớn lên như cây cối, chẳng được người nào ban cho chút tình thương. Thời kì làm canh điền cho nhà lí Kiến, Chí được tiếng rằng hiền như đất. Dù nghèo khổ, ko được giáo dục nhưng Chí vẫn biết đâu là phải trái, đúng sai, đâu là tình yêu và đâu là sự dâm đãng đáng khinh bỉ. Mỗi lần bị mụ vợ ba lí Kiến bắt bóp chân, Chí “chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”. Cũng như bao nông dân nghèo khác, Chí từng ước mơ một cuộc sống gia đình đơn giản nhưng đầm ấm: “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì sắm năm ba sào ruộng làm”. Thế nhưng cái mầm thiện trong con người Chí sớm bị quật ngã và ko sao gượng gập dậy được. Đó là lúc Chí bị Bá Kiến đẩy vào tù chỉ vì một cơn ghen tuông bạo chúa, thảm kịch lưu manh hóa cũng tính từ lúc đó.

Chí ra tù, mang theo sự chuyển đổi nhân hình và nhân tính tới méo mó dị hình. Từ một anh canh điền khỏe mạnh, Chí trở thành là một đứa “đặc như thằng săng đá”, với “cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng, cái mặt câng câng, con mắt gườm gườm. Người ta tưởng như một con quỷ dữ về làng. Chuỗi ngày sau lúc ra tù, hắn ngụp lặn trong trạng thái ý thức say triền miên. Ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say. Đớn đau hơn, sự tha hóa ko chỉ hiện lên thành hình, nó còn đang dần gặm nhấm từ bên trong trong khi Chí đã tự mình bán rẻ vong linh cho Bá Kiến. Trở về làng Vũ Đại, cái mảnh đất quần ngư tranh thực, cá lớn nuốt cá nhỏ đó, Chí Phèo ko thể hiền lành, nhẫn nhục như trước nữa. Hắn đã nắm được quy luật của sự sống sót: những kẻ cùng đinh càng hiền lành càng bị ức hiếp tới ko thể ngóc đầu lên được. Phải dữ dằn, lì lợm, gian ác mới mong tồn tại. Vậy là chỉ sau những lời mời dụ ngọt nhạt của tên gian hùng lọc lõi như Bá Kiến, Chí đã trở thành một tay đi đòi nợ thuê, chém làm thịt thuê. “Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao người dân lương thiện”. Chí Phèo đã thực hiện đúng mưu đồ của cha con nhà Bá Kiến: “Lấy thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò”. Chất Người trong hắn dường như đã hết sạch, vong linh quỷ xâm chiếm và tàn phá hắn.

Nhưng cũng chính từ thảm kịch đó nhưng ta nhìn thấy thực chất, khuôn mặt của cả một xã hội – một xã hội vô nhân với những những con người cạn sạch tính người, một xã hội nhưng Vũ Trọng Phụng gọi là “chó đểu”. Ở đó, có những tên cường hào ác bá như Bá Kiến nắm mọi quyền lực, có thể tuyệt đường sống của người dân lương thiện bất kỳ lúc nào, có nhà tù thực dân bắt vào một người lương thiện và thả ra một con quỷ dữ, có những người như dân làng Vũ Đại khước từ sự dung nạp và chấp nhận một người như Chí Phèo.

Tưởng như Chí đã trượt dài và lún sâu trong tấn thảm kịch đời mình, nhưng Nam Cao vẫn đủ tin tưởng và trái tim nhà văn vẫn rất nhân đạo lúc “cố tìm nhưng hiểu” chất Người trong tâm hồn của một kẻ nhưng phần Con đã chiếm thế. Đó là lúc Chí gặp Thị Nở – một người nữ giới xấu ma chê quỷ hờn của làng Vũ Đại. Qua cái đêm ăn nằm như vợ chồng với thị, Chí tỉnh dậy và bao nhiêu sự hồi sinh đã được đánh thức. Hồi sinh ý thức về ko gian, thời kì, về tình cảm và tiếng nói con người. Lần trước nhất trong cuộc đời, Chí nghe thấy “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá. Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”. Cũng lần đầu, hắn ý thức được về tuổi tác của mình, về hiện nay “đã già nhưng vẫn còn cô độc”, về quá khứ với ước mơ lành thiện lúc xưa, về tương lai với “đói rét, ốm đau và cô độc”. Con người đó lần đầu có những cảm giác rất người, thức dậy cả về lương tri và lương tâm. Hắn biết lo, biết sợ, biết xúc động rưng rưng trước bát cháo hành tỏa nồng hơi ấm, biết ăn năn hối cải về tội ác của mình. Chính bàn tay của một người phụ nữ có dòng dõi mả hủi đã cứu đỡ hắn ra khỏi bờ vực tha hóa, để rồi ko chỉ bộc lộ thực chất lương thiện vẫn luôn sẵn có trong con người, Chí Phèo còn trỗi dậy cả khát khao hoàn lương – trở về với xã hội nhân loại. Hắn tin rằng “Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”; “Thị có thể làm hòa với hắn sao mọi người lại ko thể”. Chưa bao giờ, ước muốn được quay trở về làm người lương thiện lại mãnh liệt tới thế. Chính đôi mắt tinh tế và tấm lòng cảm thương của Nam Cao đã nhìn thấy mầm thiện của một con người vốn sống lương thiện, bị xã hội gian ác vùi dập và đày đọa.

Nhưng hiện thực vẫn là hiện thực. Ngòi bút trung thành với hiện thực của Nam Cao đã ko chối bỏ một sự thực khác, rằng sống trong xã hội đầy rẫy những thành kiến hủ lậu lỗi thời, con người ko thể sống yên ổn theo đúng nghĩa. Một lần nữa, Chí Phèo rơi vào thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người bởi thành kiến của bà cô Thị Nở. Người nữ giới đó đã dõng dạc tuyên bố rằng: “Trai làng đã chết hết hay sao nhưng đi đâm đầu lấy một thằng ko cha, lấy một thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”. Cái loa của thành kiến làng xã đã đưa bước chân Thị Nở tới từ chối thẳng thắn khát vọng hoàn lương và hạnh phúc của Chí Phèo. Phút chốc nhân vật nửa tin nửa ngờ, nửa say nửa tỉnh, cố níu nhưng ko thể giữ, sững sờ tới đớn đau đã biến Chí Phèo trở thành một kẻ thật sự tội nghiệp và đáng thương. Thị Nở bước đi, cánh cửa dẫn lối về xã hội nhân loại đóng sầm ngay trước mặt. Chí Phèo tìm tới tên quân địch lớn nhất của đời mình để trả thù và cũng kết liễu luôn đời mình. Chết là một kết cuộc bi thương đớn đau, nhưng là lẽ thế tất lúc sống trong xã hội đầy nhơ nhuốc đó. Ko được dung nạp vào xã hội chung, Chí Phèo cũng ko thể trở lại làm quỷ dữ, bởi lương tri và lương tâm đã trở về. Chí có chết mới là cách khắc phục tốt nhất, dù nó thật đớn đau. Đó là cái chết bảo toàn phẩm giá, cái chết cảnh tỉnh cho cả một xã hội, để rồi ngày nay, tiếng hỏi “Người nào cho tao lương thiện?” vẫn ko ngừng vang vọng và ám ảnh.

Để làm nên thành công của tác phẩm trong việc xây dựng nhân vật, ko thể ko kể tới nghệ thuật phân tích tâm lý bậc thầy của Nam Cao, nghệ thuật kết cấu linh hoạt theo dòng tâm lý và sử dụng những đoạn độc thại, hội thoại thích hợp. Ngòi bút của Nam Cao đã tiêu biểu hóa một kiểu người, một số phận trong xã hội, để ngà nay Chí Phèo vẫn là cái tên trước nhất lúc người ta nhớ về Nam Cao.

——————— HẾT———————–

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-tac-pham-chi-pheo-cua-nam-cao-40814n.aspx
Cùng với việc tham khảo các bài mẫu phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, để làm tốt các đề văn yêu cầu phân tích một tác phẩm văn, thơ trong chương trình Ngữ văn lớp 11, các em cần lưu tâm tới các bài Phân tích nhân vật Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, Phân tích truyện ngắn Vi hành, Phân tích bài thơ Vội vã, Phân tích chí làm trai trong bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương của Phan Bội Châu,…

Từ khoá liên quan:

phan tich tac pham Chi pheo hay nhat

, phan tich tac pham chi pheo cua nam cao, phan tich tac pham chi pheo lop 11,